Chiến sỹ
Ông Nguyễn Viết Lào, sinh năm 1940, ở đội 1 thôn Công Hòa, xã Nam Ba Đồn, tỉnh Quảng Trị đã tham gia vào cuộc chiến tranh với Mỹ. Từ năm 1964 đến 1965, ông là chiến sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, theo tiếng gọi của Tổ quốc hành quân vào miền Nam chiến đấu chống kẻ thù.
Ông Nguyễn Viết Lào, sinh năm 1940, ở đội 1 thôn Công Hòa, xã Nam Ba Đồn, tỉnh Quảng Trị đã tham gia vào cuộc chiến tranh với Mỹ. Từ năm 1964 đến 1965, ông là chiến sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, theo tiếng gọi của Tổ quốc hành quân vào miền Nam chiến đấu chống kẻ thù. Những năm ấy, bom đạn của quân Mỹ trút xuống không ngừng, mặt đất rung chuyển ngày đêm. Ông cùng đơn vị vượt Trường Sơn, băng rừng lội suối để vào chiến trường, mang theo niềm tin giản dị là phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Ông tham gia chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên, chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Đây là vùng rừng núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, cuộc sống vô cùng gian khổ. Bộ đội phải chui lủi trong rừng sâu, đào hầm trú ẩn để tránh bom, tránh máy bay địch. Có những ngày không có cơm ăn, gạo cạn dần, ông và đồng đội phải đào sắn, tìm củ rừng chia nhau cầm bữa. Dù đói khát, mệt mỏi, nhưng tình đồng đội đã giúp họ cùng nhau vượt qua tất cả. Dưới làn bom đạn ác liệt của quân Mỹ, ông cùng anh em kiên cường bám trụ, vừa chiến đấu vừa giữ rừng, giữ làng. Có những trận đánh kéo dài nhiều ngày liền, người nào cũng gầy rộc đi, nhưng không ai bỏ vị trí. Sau nhiều năm chiến đấu, trong một trận ác liệt, ông bị thương nặng, sức khỏe suy kiệt nên được đưa ra miền Bắc điều trị. Những vết thương ấy theo ông suốt đời, trở thành dấu tích không thể phai mờ của chiến tranh. Sau khi đất nước hòa bình, ông trở về quê hương, sống cuộc đời bình dị. Đến năm 1986, Nhà nước đã trao tặng ông Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, ghi nhận những cống hiến thầm lặng trong suốt những năm tháng chiến đấu gian khổ. Với ông, đó không chỉ là phần thưởng, mà còn là minh chứng cho một thời hoa lửa đầy đau thương nhưng rất đỗi tự hào – thời mà tuổi trẻ, mồ hôi và cả máu xương đã được gửi lại nơi chiến trường vì độc lập, tự do của dân tộc.
2, Lúc ông Lê Thanh Mình rời chiếc ghế trường , trước năm 75 chống Mỹ sau 1975 thời gian có những người cầm súng bảo vệ Campuchia và giúp đỡ bạn Lào. 1993 bước vào quân ngũ bảo vệ biên giới phía Bắc thực tế ở mảnh đất Vĩ Sơn Hà Tuyên thời gian rất ác liệt chống bọn Trung Quốc và những người khác bảo vệ ở biên giới phồn phốt . Trong đó bảo vệ ở phĩa nữa có ông Lê Thanh Minh đã từng vào chung mọi người bảo vệ từng tấc đất quê hương xây dựng cuộc sống bình yên lập lại . có những người đã nằm tại trên mảnh đất của các vị trí ở chiến trường. Nhiều khi ăn từng không có cơm mà lúc phục vụ ở chiến trường lúc đó manh áo tan nát lấy từng hạt bo bo và hạt rau bay để ăn qua ngày rạng tháng phục vụ khi tiếp tế lên chiến trường không nổi nhưng vẫn cố gắng bám trụ để bảo vệ từng mảnh đất của trên địa bàn của quê hương mẹ đến bây giờ tồn tại. Đến thời gian 1987 ông được trở về xây dựng tổ ấm gia đình ấm no hạnh phúc đến bây giờ.
3, Người kể: Nguyễn thanh Hải
Sinh năm 1964
Địa chỉ: Quảng Tân
Lần về làm phim tại Ngã ba Đồng Lộc, cựu chiến binh Vương Khả Sơn đã tình cờ đọc được cuốn hồi ký "Ký ức chiến tranh" của một đồng đội . Ông Sơn, một chiến binh từng trận mạc, sau khi trở về đã trở thành một thầy giáo . Ông viết về chiến tranh không tô hồng hào quang chiến thắng, mà lột tả sự khốc liệt, cái giá của độc lập, tự do.Năm 1972, giữa chiến trường ác liệt, có một chiến sĩ thuộc đơn vị ông, trước lúc hy sinh, trong ba lô có một cuốn sổ . Ông Sơn đã trải qua cuộc đời người lính dọc chiều dài đất nước, từ Hà Tĩnh đến Lào, Campuchia rồi về miền Đông Nam Bộ. Hơn 40 năm sau chiến tranh, những hình ảnh dữ dội, khốc liệt nhưng không kém phần nhân văn của cuộc chiến vẫn in đậm trong ký ức ông. Ông viết lại để thấy cái giá của độc lập, tự do hôm nay.
4, Người kể:Ông Đặng Liến
Sinh năm: 1944
Địa chỉ: xã Quảng Phong, huyện Quảng Trạch (nay là thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình
Ông tôi kể rằng, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, người dân Quảng Bình ai cũng biết đến Đường 20 – Quyết Thắng, con đường huyết mạch nối từ Quảng Bình sang chiến trường miền Nam. Ông không trực tiếp cầm súng chiến đấu, nhưng từng nhiều lần gùi gạo, đưa hàng tiếp tế lên tuyến đường này và tận mắt chứng kiến sự hy sinh của lực lượng thanh niên xung phong.
Theo lời ông, những thanh niên xung phong khi đó đa phần còn rất trẻ, có người mới mười tám, đôi mươi. Họ làm nhiệm vụ mở đường, san lấp hố bom, dẫn xe qua trọng điểm, bất chấp ngày đêm và bom đạn. Có những đoạn đường vừa san xong ban ngày thì ban đêm lại bị máy bay Mỹ ném bom phá hủy, sáng ra họ lại tiếp tục cuốc xẻng, làm lại từ đầu.
Ông nhớ mãi một lần vào năm 1967, khi đang nghỉ chân gần tuyến đường, bất ngờ máy bay địch ập đến ném bom dữ dội. Sau trận bom, khói bụi mù mịt, nhiều thanh niên xung phong đã hy sinh ngay tại miệng hố bom. Đồng đội của họ chỉ kịp đào hố chôn cất tạm bên đường, lấy cành cây làm dấu, rồi lại tiếp tục công việc để đảm bảo giao thông thông suốt cho xe ra tiền tuyến.
Ông tôi bảo rằng, thời đó gian khổ lắm: ăn không đủ no, ngủ không đủ giấc, sốt rét rừng, vắt, muỗi bám đầy người. Nhưng chưa bao giờ ông nghe họ than vãn hay bỏ nhiệm vụ. Điều mà ông nhớ rõ nhất là tinh thần lạc quan, câu nói thường trực của họ: “Đường còn thông là miền Nam còn được tiếp sức.”
Mỗi lần nhắc lại chuyện Đường 20 – Quyết Thắng, ông tôi đều trầm giọng và dặn con cháu phải biết ơn những con người đã âm thầm hy sinh tuổi xuân để đổi lấy hòa bình hôm nay. Với ông, những thanh niên xung phong năm ấy chính là những anh hùng thầm lặng của Quảng Bình trong thời hoa lửa.
5, Chuyện bà kể về Mẹ Suốt – người chèo đò giữa bom đạn
Người kể: Bà Phan Liên
Sinh năm: 1946
Địa chỉ: xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch (nay thuộc thị xã Ba Đồn), tỉnh Quảng Bình
Bà tôi kể rằng, vào những năm kháng chiến chống Mỹ, khi bà còn là một thiếu nữ sống ven sông, cái tên Mẹ Suốt đã rất quen thuộc với người dân Quảng Bình. Mẹ Suốt tên thật là Nguyễn Thị Suốt, quê ở xã Bảo Ninh, Đồng Hới, nhưng chuyện về mẹ thì lan khắp vùng, từ Đồng Hới ra tới Quảng Trạch, Ba Đồn.
Bà tôi nhớ rất rõ hình ảnh một người mẹ đã lớn tuổi, dáng người gầy, nước da sạm nắng, ngày ngày chèo đò đưa bộ đội, dân quân, vũ khí vượt sông Nhật Lệ. Thời đó, máy bay Mỹ đánh phá dữ dội, cứ nghe tiếng máy bay là người dân phải chạy xuống hầm trú ẩn. Vậy mà mẹ Suốt vẫn bám sông, bám đò. Có những hôm bom nổ ngay gần bờ, nước sông bắn lên trắng xóa, nhưng mẹ vẫn bình tĩnh chèo, miệng động viên mọi người: “Cứ ngồi yên, mẹ quen rồi!”
Bà kể, có lần bộ đội hành quân gấp, nếu chậm sẽ lỡ nhiệm vụ. Mẹ Suốt không ngần ngại chèo liên tục nhiều chuyến trong ngày, mặc cho tay phồng rộp, lưng đau nhức. Người dân ai cũng thương, có người khuyên mẹ nghỉ ngơi, nhưng mẹ chỉ cười bảo: “Còn chèo được là còn giúp bộ đội.”
Đến khi nghe tin mẹ Suốt hy sinh trong một trận bom năm 1968, bà tôi và nhiều người trong làng đã khóc rất nhiều. Với bà, mẹ Suốt không chỉ là một anh hùng, mà là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Quảng Bình chịu thương chịu khó, gan góc mà giàu lòng yêu nước.
6, Ông Phạm Văn Chương, một người đàn ông đã trải qua thời hoa lửa của chiến tranh Việt Nam. Ông sinh năm 1927, trong một gia đình yêu nước.Khi còn trẻ, ông Chương đã tham gia kháng chiến chống Pháp, và sau đó là chống Mỹ. Ông được đào tạo để trở thành một nhà tình báo, và đã thâm nhập vào lòng địch để thu thập thông tin quan trọng.
Ông Chương đã xây dựng được mối quan hệ tốt với nhiều nhân vật quan trọng, bao gồm cả các lãnh đạo của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Ông đã sử dụng nhiều phương thức liên lạc bí mật để gửi tin nhắn đến căn cứ, và đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Một lần, ông Chương đã nhận được tin tức rằng Mỹ sắp sửa mở một cuộc tấn công lớn vào căn cứ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông biết rằng mình phải hành động nhanh chóng để cảnh báo cho đồng đội. Ông Chương đã sử dụng một phương thức liên lạc bí mật để gửi tin nhắn đến căn cứ, nhưng bị phát hiện bởi quân địch. Ông đã phải chạy trốn, và trong quá trình đó, ông đã bị thương nặng. Dù bị thương, ông Chương vẫn cố gắng đến được căn cứ, và đã kịp thời cảnh báo cho đồng đội về cuộc tấn công sắp tới. Nhờ có thông tin của ông, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chuẩn bị sẵn sàng, và đã đánh bại cuộc tấn công của Mỹ.
Sau chiến tranh, ông Chương đã trở về quê hương, và đã sống một cuộc sống bình yên. Ông đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, và đã trở thành một người hùng trong lòng dân tộc.Ông Chương thường nói: "Tôi chỉ là một người lính nhỏ, nhưng tôi đã làm được một việc lớn. Tôi đã góp phần vào chiến thắng của dân tộc, và đó là niềm tự hào lớn nhất của tôi."
7, Một buổi tối, khi cả gia đình ngồi quây quần, em được nghe ông Nguyễn Văn Lâm kể về những năm tháng chiến tranh – thời hoa lửa mà ông từng trải qua. Hiện nay ông đã 78 tuổi, đang sinh sống tại xã Quảng Phú, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ông kể rằng, vào những năm kháng chiến chống Mỹ, khi mới ngoài hai mươi tuổi, ông đã rời xa gia đình để tham gia kháng chiến. Cuộc sống lúc ấy vô cùng thiếu thốn, bữa đói bữa no, quần áo không đủ ấm, nhưng ai cũng một lòng vì đất nước. Có những đêm ông cùng đồng đội hành quân trong rừng sâu, mệt mỏi rã rời, nhưng nghĩ đến quê hương và người thân ở hậu phương, mọi người lại động viên nhau cố gắng vượt qua. Chính tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước đã giúp ông và đồng đội kiên cường trong suốt thời hoa lửa. Nghe ông kể, em càng hiểu rõ hơn những gian khổ mà thế hệ đi trước đã trải qua và thêm trân trọng cuộc sống hòa bình hôm nay. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với sự hy sinh của ông và bao thế hệ cha anh.
8, câu chuyện về ông Nguyễn Thành Quang, sinh1949 năm người đã trải qua trận đánh khốc liệt tại chi khu Phước Lộc trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Dù đối mặt với lực lượng địch vượt trội, với vũ khí tối tân, nhưng với tinh thần chiến đấu quả cảm, sự bí mật, bất ngờ và chiến thuật hiệu quả, quân ta đã tiêu diệt gọn cứ điểm địch mà không tổn thất về người. Tuy nhiên, sau đó, khi đơn vị bị địch bao vây, những hy sinh, mất mát là không thể tránh khỏi. Câu chuyện còn khắc họa rõ nét sự cưu mang, đùm bọc của bà con nhân dân đối với người lính bị thương, lạc đơn vị, thể hiện tình nghĩa quân dân sâu nặng.
9,Ông Nguyễn Văn Liên, sinh năm 1948, hiện tại ông đang ở đội 3 thôn Hợp Hòa, xã Nam Gianh, tỉnh Quảng Trị. Năm 1965, ông rời quê, theo đoàn quân vào chiến trường Trị – Thiên đầy khốc liệt. Vùng đất Quảng Trị ngày ấy mịt mù khói lửa, bom đạn cày nát từng tấc đất. Sông Thạch Hãn đỏ phù sa, làng mạc tan hoang, nhưng bước chân người lính vẫn không ngừng tiến về phía trước.Đơn vị ông đóng quân ven bờ sông. Ban ngày đào hầm, ban đêm vượt sông đánh địch. Có những hôm mưa dầm lạnh buốt, áo quần ướt sũng, cơm vắt mốc xanh nhưng anh em vẫn chia nhau từng miếng. Khi thiếu gạo, ông và đồng đội mò rau dại, bẻ bắp non, nấu cháo loãng để sống mà chiến đấu.
Một lần vượt sông trong đêm, pháo địch bắn sáng rực cả mặt nước. Đạn bay vù vù trên đầu. Ông vừa bơi vừa giữ chặt khẩu súng. Giữa dòng chảy xiết, một đồng đội bị trúng mảnh pháo, chìm xuống. Ông lao tới kéo bạn vào bờ, lưng ông cũng bị mảnh đạn sượt qua rát bỏng. Nhưng ông không dám dừng lại, chỉ sợ chậm một giây là mất thêm người.
Những đêm nằm trong hầm cát, ông nghe tiếng sóng sông vỗ nhẹ mà nhớ quê đến thắt lòng. Nhớ mẹ ngồi vá áo bên bếp lửa, nhớ con đường làng yên ả. Chính những điều bình dị ấy giúp ông và đồng đội có thêm nghị lực giữa mưa bom bão đạn.Ngày đất nước yên bình, ông trở về với mái đầu đã lấm sương và ký ức không phai. Ông thường nói với con cháu:“Thời hoa lửa gian khổ lắm, nhưng nhờ có nó mà hôm nay các con được sống trong hòa bình.”
10, Ông Trần Văn Thân, sinh năm 1956, ở thôn La Hà, Quảng Văn đã kể: Ngày xưa, lúc bằng tuổi tụi con bây giờ, ông bỏ lại mái nhà nhỏ ở quê để đi bộ đội. Khi đó ông còn trẻ lắm, ba lô nhẹ mà lòng thì nặng vì nhớ nhà. Đơn vị ông đóng quân ở một vùng đồi vắng. Cuộc sống ngày ấy thiếu đủ thứ. Cơm không đủ ăn, nhiều bữa chỉ có nắm gạo trộn bo bo, chia nhau từng muỗng. Có hôm đói quá, ông với mấy chú trong tiểu đội ra bờ suối bắt cá nhỏ, hái rau dại nấu canh. Ăn chẳng ngon, nhưng được ngồi bên nhau là thấy ấm rồi. Ban ngày đào hầm, tối đến thay nhau gác. Trời khuya lạnh, sương rơi ướt cả vai áo. Ông ôm khẩu súng, mắt nhìn ra xa mà trong đầu chỉ nghĩ tới nhà: không biết mẹ có còn thức vá áo, không biết con đường làng có còn yên bình như trước không.Có một lần, địch bắn phá bất ngờ. Ai cũng chạy về vị trí. Một người bạn của ông bị trượt chân ngã. Ông quay lại kéo bạn dậy. Lúc đó chẳng nghĩ gì cao siêu, chỉ sợ bỏ bạn lại một mình giữa bom đạn thì không đành lòng.Qua bao nhiêu tháng ngày như vậy, ông và đồng đội sống nhờ nhau mà vượt qua. Không phải lúc nào cũng anh hùng, nhiều khi cũng sợ lắm, cũng nhớ nhà lắm. Nhưng nghĩ tới quê hương, ai cũng tự nhủ phải cố thêm chút nữa.Giờ đất nước yên bình, ông được ngồi đây kể chuyện cho tụi con nghe. Ông chỉ mong các con hiểu: hòa bình hôm nay là từ những ngày gian khổ mà có, nên phải biết quý và sống cho tốt.
11, Bà Trần Thị Hướng, sinh năm 1947, ở xã Nam Ba Đồn đã kể: Hồi đó, bà còn trẻ lắm. Quê nghèo, chiến tranh liên miên, bà theo đội thanh niên xung phong ra mặt trận. Tóc còn xanh mà vai đã gánh đầy việc. Bà không cầm súng nhiều như các chú bộ đội, nhưng công việc của bà là mở đường, tải đạn, cứu thương. Cùng đồng đội sống trong những lán nhỏ giữa rừng. Ban ngày cuốc đá, lấp hố bom, ban đêm khiêng thương binh về trạm. Có những hôm mưa rừng tầm tã, bùn đất bám kín chân, vai đau rát vì gùi nặng. Cơm thì ít, nhiều bữa chỉ có khoai lang luộc chấm muối, chia nhau từng miếng mà vẫn cười. Một lần, máy bay địch bất ngờ thả bom xuống con đường bà đang sửa. Đất đá văng tung tóe. Bà và mấy chị em lao xuống hầm. Khi yên tiếng nổ, bà nghe có tiếng gọi yếu ớt. Một chị bị mảnh bom làm kẹt chân. Bà với người khác đào đất bằng tay, móng tay bật máu mới kéo được chị ra. Lúc đó bà run lắm, nhưng chỉ nghĩ: không cứu thì chị ấy sẽ không qua nổi.Đêm về, bà ngồi vá lại chiếc áo rách dưới ánh đèn dầu leo lét. Ngoài kia, rừng im lặng đến lạ. Bà nhớ nhà, nhớ bếp lửa, nhớ tiếng mẹ gọi. Nhưng bà hiểu, nếu ai cũng sợ, cũng quay về, thì lấy ai giữ đường cho bộ đội ra tiền tuyến.
Ngày hòa bình, bà trở lại quê. Tóc đã pha sương, lưng không còn thẳng như xưa, nhưng mỗi khi kể lại, bà vẫn mỉm cười: Thời chiến vất vả thật, nhưng nhờ vậy mà con cháu bây giờ mới được sống yên bình, hạnh phúc như bây giờ.


