Chiến thắng An Biên (1954) và khả năng kết thúc Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Chiến thắng An Biên (1954) và khả năng kết thúc Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
70 năm trước, chiến trường chính Bắc bộ đã làm nên một chiến thắng ở Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Cùng thời gian ấy trên chiến trường phối hợp ở Nam bộ, xuất hiện một trận thắng ở An Biên và hàng loạt trận chiến có ý nghĩa chính trị quân sự không nhỏ trong việc kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thực tế ở chiến trường Việt Nam đến tháng 5-1954 đã xuất hiện khả năng kết thúc chiến tranh bằng quân sự. Vậy nhưng cuối cùng cả hai bên đã chọn ký hiệp định đình chỉ chiến sự ở Giơ-ne-vơ đển tiến tới kết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Hình in trong trong sách "Kiên Giang kháng chiến chống Pháp (1945-1954)" do Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Kiên Giang biên soạn và xuất bản năm 2015
1. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp tái xâm lược, từ sau Thu đông 1950 đã chuyển sang thời kỳ phản công và tổng phản công. Trên chiến trường chính Bắc bộ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã từng bước giành và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, làm phá sản nhiều kế hoạch chiến tranh của Pháp-Mỹ; trong khi đó chiến trường Nam bộ và các chiến trường khác chuyển dần thành chiến trường phối hợp ngày càng hiệu quả.
Từ năm 1951, theo Nghị định số 252/NĐ-51 của Trung ương Cục và ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ, chiến trường Nam Bộ sáp nhập 20 tỉnh, thành của các khu 7,8,9, chia lại thành Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn và 2 Phân liên khu (lấy Sông Tiền làm ranh giới) . Mỗi Phân liên khu chỉ có 1 tiểu đoàn chủ lực cơ động (Tiểu đoàn 302 ở Phân liên khu miền Đông, Tiểu đoàn 307 ở Phân liên khu miền Tây), nhưng ở mỗi tỉnh đã có tiểu đoàn tập trung của tỉnh. Các tỉnh Phân liên khu miền Tây có: Tiểu đoàn 308 Sóc Trăng, Tiểu đoàn 410 Cần Thơ, Tiểu đoàn 406 Long Châu Hà, Tiểu đoàn 331 và Tiểu đoàn 333 Vĩnh Trà. Ngoài ra, trong quá trình phát triển còn có các đại đội độc lập để tăng cường cho các vùng yếu, các đội vũ trang tuyên truyền để hoạt động ở các vùng sau lưng địch, các đội binh chủng như: đặc công, pháo binh, công binh, các đội săn tàu bằng thủy lôi. Các huyện củng cố đại đội địa phương để đủ sức bảo vệ địa phương mình và phát triển dân quân du kích, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích .

Hình in trong trong sách "Kiên Giang kháng chiến chống Pháp (1945-1954)" do Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Kiên Giang biên soạn và xuất bản năm 2015
Để chủ động kìm chế địch trên chiến trường Nam Bộ và tiến lên kịp với phong trào toàn quốc, Trung ương Cục chủ trương phải: giành giật Khu 8, tiến công kìm chế ở Khu 7, giữ vững Khu 9, giúp phong trào Campuchia phát triển, phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ. Nắm vững phương châm chiến lược: du kích chiến là chính, học tập đánh vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới .
Chiến trường Nam bộ lúc này có nhiệm vụ “phải tùy hoàn cảnh ở đó, tùy công tác đang tiến hành mà ra sức hoạt động mạnh hơn, nhất là chiến tranh du kích, để tiêu diệt địch và kìm hãm địch không cho chúng điều động ra Bắc bộ”. Từ đó, hoạt động kháng chiến về quân sự được đẩy mạnh, nhiều trận đánh của quân và dân Phân liên khu miền Tây trong những năm 1952-1953 diễn ra quyết liệt ở Cần Thơ, Vĩnh Trà, Sóc Trăng, Long Châu Hà, Bạc Liêu… Tây Nam bộ dần dần chuyển thành trung tâm kháng chiến của Nam bộ thay cho Đồng Tháp Mười, vùng tự do và căn cứ kháng chiến liên hoàn từ Cần Thơ xuống Rạch giá, sang Sóc Trăng và xuống tới Bạc Liêu; các cơ quan đầu não kháng chiến Nam bộ chuyển từ U Minh Thượng về U Minh Hạ. Cùng với đẩy mạnh hoạt động vũ trang, chính quyền kháng chiến còn đôn đốc thực hiện công tác tông giáo vận (ở Long Châu Hà), thực hiện chính sách ruộng đất và đảm bảo “Người cày có ruộng”, từ đó đẩy mạnh sản xuất và ra sức xây dựng thực lực kháng chiến, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong vùng kháng chiến.
Cho đến trước Đông-Xuân 1953-1954, trạng thái chiến trường ở Phân liên khu Tây Nam bộ cũng như toàn Nam bộ là “chiến trường hoàn toàn du kích, phương châm tác chiến của ta căn bản là du kích chiến… Hướng xây dựng căn cứ của Nam bộ là giữ vững và củng cố căn cứ Bạc Liêu và Đồng Tháp, tích cực củng cố phát triển căn cứ miền Đông. Đẩy mạnh công tác địch ngụy vận”. Tháng 8-1953 Trung ương Cục mở Hội nghị bàn về công tác địch ngụy vận đề ra 12 chủ điểm của kế hoạch vận động binh lính địch ở Nam bộ, nhấn mạnh phương châm “tất cả phải lấy dân làm gốc”, quyết định mở chiến dịch địch ngụy vận trên toàn chiến trường Nam Bộ từ tháng 10-1953, xem đó là công tác trung tâm ở vùng du kích và vùng tạm chiếm . Hè-Thu 1953, địch đẩy mạnh càn quét bình định ở Nam bộ để tập trung quân theo kế hoạch Navarre; nhưng quân và dân Phân Liên khu Tây Nam bộ và toàn Nam bộ đều tổ chức nhiều trận chống càn hiệu quả.
Là một quận nằm giữa tỉnh Bạc Liêu, An Biên bị địch chiếm đóng từ năm 1946, chúng xây dựng Yếu khu An Biên ngay trong Chi khu quận lỵ, thường xuyên duy trì lực lượng khoảng 1 tiểu đoàn với hỏa lực mạnh; ngoài ra địch còn xây dựng 6 bót trải dọc bờ sông Cái Lớn từ kênh Cán Gáo đến Xẻo Rô, khống chế con đường nối với thị xã Rạch Giá... Địch coi An Biên là một hệ thống phòng ngự quan trọng tạo thế áp sát căn cứ kháng chiến U Minh. Vì vậy, việc tiêu diệt căn cứ An Biên, mở bàn đạp phát triển cho vùng căn cứ U Minh vì vậy là nhiệm vụ bức thiết cho quân và dân Phân liên khu miền Tây Nam bộ, cuối năm 1953 ta mở đợt hoạt động vào quận An Biên.
Cuối tháng 9 – đầu tháng 10-1953, tại chiến khu Việt Bắc, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bàn về kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1953-1954; Hội nghị quyết định lấy Tây Bắc làm hướng tiến công chính trong Đông-Xuân 1953-1954, các chiến trường khác là hướng phối hợp. Nhiệm vụ của chiến trường phối hợp ở Nam bộ là "đẩy mạnh chiến tranh du kích, lợi dụng điều kiện thuận lợi mới do quân địch phải tập trung nhiều lực lượng đi các hướng khác mà tăng cường hoạt động đánh nhỏ ăn chắc, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh ngụy vận, mở rộng các căn cứ du kích và khu du kích” .
Thực tế là từ giữa năm 1953 trở đi, Pháp buộc phải rút quân nhanh từ Nam Bộ ra chi viện cho chiến trường Trung Bộ, Hạ Lào và Bắc bộ, hình thành khối chủ lực mạnh theo kế hoạch Navarre. Tình hình đó dẫn đến so sánh lực lượng ta—địch ở Nam bộ thay đổi có lợi cho ta: Toàn Nam bộ địch chỉ còn 3 tiểu đoàn Âu-Phi không đủ biên chế, 12 tiểu đoàn quân đội Quốc gia Việt Nam mới thành lập khả năng chiến đấu yếu, tinh thần sút kém. Lực lượng của Việt Minh ở Nam Bộ có 3 tiểu đoàn chủ lực Khu là 302, 304, 307 và 7 tiểu đoàn địa phương (các tỉnh) là: 300, 303, 306, 308, 310, 311, 410; ngoài ra còn có các đại đội, trung đội bộ đội địa phương huyện và dân quân du kích xã. Tuy trang bị vũ khí của ta kém hơn địch, nhưng tinh thần và khả năng tác chiến vượt trội quân xâm lược. Nam Bộ hoàn toàn có thể chủ động đẩy mạnh hoạt động trong các vùng địch hậu, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa theo kiểu du kích nhằm tiêu hao, cầm chân quân địch, gây bất ổn hậu phương quân địch.
Theo diễn biến tình hình ấy, trong Chỉ thị gửi Trung ương Cục miền Nam ngày 7-11-1953, Trung ương chỉ đạo cần phải coi công tác chuẩn bị để phá âm mưu tập trung quân của địch là một trong những công tác trung tâm, cần và có thể "hoãn những công tác không khẩn cấp lại" để làm ngay những công việc như: tuyên truyền giải thích cho nhân dân, bộ đội và cán bộ tỉnh táo đề phòng âm mưu của địch, định kế hoạch tác chiến cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, cho sơ tán các kho tàng và chủ động phòng tránh cho cơ quan quan trọng, tăng cường việc giữ bí mật, phòng gian, tăng cường việc liên lạc để nắm vững địch tình . Trong Chỉ thị tháng 12-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ rõ các chiến trường ở Nam Bộ thực hiện 3 nhiệm vụ chính là: “1) Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích; 2) Củng cố và mở rộng căn cứ; 3) Đẩy mạnh công tác ngụy vận" .
Thực hiện chủ trương nhiệm vụ được phân công trên đây, cuối năm 1953, đầu 1954, toàn Nam Bộ đẩy mạnh tiến công quân sự, kết hợp đấu tranh chính trị và binh, địch vận. Các tiểu đoàn chủ lực của các Phân liên khu miền Ðông, Phân liên khu miền Tây và các tỉnh kết hợp bộ đội địa phương tiến công vào các vùng địch hậu và đánh vào hàng loạt vị trí địch trên các trục đường giao thông quan trọng; các tỉnh đều xác định trọng điểm hoạt động, bộ đội địa phương và du kích luồn sâu vào vùng địch hậu vũ trang tuyên truyền, bắn tỉa, đánh phá giao thông, bao vây đồn bốt địch, bức hàng và vận động binh biến trong hàng ngũ địch.
Phân liên khu miền Tây xây dựng kế hoạch phối hợp các chiến trường địa phương theo từng đợt hoạt động tác chiến. Cuối tháng 2-1954, Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Tây chủ trương mở đợt hoạt động tiến công quân sự nhằm tiêu diệt, làm tan rã hàng ngũ địch, hoạt động tác chiến kết hợp với ngụy địch vận để phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ.
Lực lượng vũ trang Cần Thơ từ giữa tháng 11-1953 bắt đầu tiến công bao vây uy hiếp 40 đồn bót địch trên các trục lộ, đánh bại các cuộc hành quân bình định của địch, đánh 140 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 900 tên địch, bắt sống 95 tên, rã ngũ 327 tên, diệt 18 đồn, bức hàng bức rút 22 đồn, đánh chìm 2 tàu chiến, thu 125 súng. Lực lượng vũ trang Sóc Trăng trong 3 tháng đầu năm 1954 diệt 3 đồn, bức rút bức hàng 21 đồn, lô cốt. Lực lượng vũ trang Vĩnh Trà đầu tháng 2-1954 diệt 4 đồn, bức hàng bức rút nhiều đồn bót khác .
Lực lượng vũ trang Bạc Liêu từ đầu tháng 2-1954 đã phối hợp chặt chẽ giữa Đại đội 552 An Biên với các Đại đội 931 và 933 tiểu đoàn 307 mở đợt hoạt động với trọng điểm là tiến công địch ở quận lỵ An Biên. Có sự phối hợp tác chiến của chủ lực Phân liên khu (Tiểu đoàn 307), lực lượng vũ trang An Biên khuếch trương thắng lợi, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, tiến lên bao vây địch ở Xẻo Rô, Tắc Cậu và các lô cốt trên đường Minh Lương - Tắc Cậu; vừa bao vây, vừa tiến hành công tác binh địch vận, kêu gọi binh sĩ địch. Tại quận lỵ An Biên, bộ đội đào giao thông hào lấn dần vào đồn và bắn tỉa hàng ngày. Địch cố bám giữ, huy động máy bay bắn phá xung quanh Xẻo Rô, song trước sức vây ép mạnh mẽ của ta, địch ở đồn Xẻo Rô, Thứ Ba phải rút chạy, ngày 25-4-1954 An Biên hoàn toàn giải phóng.
Như vậy trong 5 tháng phối hợp với chiến trường toàn quốc và Điện Biên Phủ, Phân Liên khu miền Tây, phong trào du kích chiến tranh đã làm tiêu hao, tiêu diệt 6.818 tên địch, san bằng 1.048 đồn bót, thu 1.658 súng các loại, chuyển 60 xã tạm chiếm lên thành xã du kích với trên 300.000 dân . Kết quả to lớn nhất là giải phóng hoàn toàn huyện An Biên - huyện đầu tiên ở Tây Nam bộ được giải phóng trong Đông xuân 1953-1954 và là huyện thứ 2 của tỉnh Bạc Liêu được giải phóng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (trước đó từ năm 1948 huyện Phước Long đã được giải phóng). Cùng trong giai đoạn này, ngoài An Biên được giải phóng hoàn toàn, còn giải phóng cơ bản nhiều huyện ở Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Trà, Bến Tre, giải phóng 60 xã với 300.000 dân .
3. Việc giải phóng hoàn toàn một huyện ở Phân liên khu miền Tây trong điều kiện chiến trường Nam bộ nói riêng và chiến trường toàn quốc nói chung đang chuyển biến nhanh trong Đông xuân 1953-1954 không phải là sự “ăn may” hay là “diễn biến bất ngờ”, mà là kết quả của sự chỉ đạo của Trung ương và Trung ương Cục, trong đó điều đáng chú ý quan trọng là kết quả của sức mạnh quân sự địa phương trong khuôn khổ chiến tranh du kích ở chiến trường phối hợp.
Sức mạnh quân sự địa phương ở đây là sự phối hợp lực lượng chủ lực Phân liên khu (Tiểu đoàn 307) và bộ đội 552 An Biên cùng du kích trong tác chiến quân sự.
Trong sự phối hợp làm nên sức mạnh chiến thắng ấy, vai trò của tiểu đoàn 307 là rất quyết định. Đây là tiểu đoàn chủ lực được xây dựng ngay từ đầu cuộc kháng chiến và có sở trường đánh tập trung, đánh tiêu diệt, nhất là kinh qua các chiến trận: trận Mộc Hoá, trận La Bang, trận Phong Phú (Cầu Kè), trận Bàu Thúi, trận Bảy Háp, trận Nhị Nguyệt (Cà Mau)… Chiến sĩ Tiểu đoàn thông thạo bơi chèo, hành quân vừa nhanh vừa bí mật, vừa có kỹ thuật đánh đặc công, giải quyết nhanh, dứt điểm nhanh, vừa có nhiều kinh nghiệm phối hợp tác chiến với nhiều đơn vị bộ đội và du kích ở nhiều địa phương, thông thạo chiến trường, thông thạo địa hình, nắm rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù và từng làm cho chúng khiếp đảm, chịu tổn thất trong nhiều chiến trận.
Trong tác chiến phối hợp, Tiểu đoàn 307 dày dạn kinh nghiệm và đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện: đi đánh đồn dinh quận An Biên, các chiến sĩ 307 bơi xuồng đến sát rào mà địch không hay, nổ súng hạ đồn xong, thu chiến lợi phẩm lên xuồng về căn cứ lúc ấy dân mới biết; nhân dân trong vùng gọi bộ đội 307 là “bộ đội thủy quân lục chiến”... Sau trận giải phóng An Biên, Tiểu đoàn 307 lại phối hợp với đại đội địa phương 2062 cùng quân dân thị xã Rạch Giá và huyện Châu Thành (Kiên Giang) tiến công, bao vây các đồn bót quanh thị xã, thị trấn, bức rút bức hàng hàng chục đồn bót địch, mở rộng vùng giải phóng.
Bộ đội An Biên 552 và lực lượng du kích cơ sở được xây dựng phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn kháng chiến có khác nhau, nhất là trong thời kỳ phối hợp chiến trường như Đông xuân 1953-1954 phải giữ vai trò nòng cốt trong phong trào du kích chiến tranh du kích ở địa phương, là lực lượng chủ yếu trong các hoạt động bao vây đồn bót địch, giải quyết diễn biến và hậu quả chiến trận. Thực tế trong trận tấn công giải phóng An Biên, lực lượng vũ trang địa phương An Biên đã phát huy được sức mạnh quân sự vốn có của mình khi có sự phối hợp toàn diện với các đại đội 931 và 933 của 307 trong phối hợp chiến trường chung của toàn Phân liên khu và toàn Nam bộ cũng như phối hợp cả nước.
Giải phóng An Biên bằng sức mạnh quân sự địa phương trong Đông xuân 1953-1954 cũng cho thấy: Nam bộ rất cần có đủ cả hai lực lượng vũ trang: chủ lực và địa phương. Sau 8 năm kháng chiến, lại ở nơi đi trước kháng chiến toàn quốc, đến Đông xuân 1953-1954 Nam bộ chỉ mới có 3 tiểu đoàn chủ lực trải rộng trên toàn chiến trường 20 tỉnh, rõ ràng là thật quý hiếm. Nếu có hơn số lượng đơn vị và hơn quy mô cấp tiểu đoàn ấy, có lẽ không chỉ có An Biên được giải phóng.
Dù sao, trong khuôn khổ chiến trường phối hợp, tác chiến theo phương thức chiến tranh du kích, lực lượng vũ trang địa phương tự giải phóng và giải phóng hoàn toàn một quận có yếu khu của địch đã nắm giữ từ lâu, trận thắng An Biên vẫn minh chứng cho nỗ lực vượt bậc của địa phương; và hơn thế nữa nó còn báo hiệu nhiều khả năng mới của kháng chiến, trong đó có báo hiệu khả năng kết thúc thắng lợi hoàn toàn về quân sự trong cuộc chiến tranh này.
4. Việc giải phóng huyện An Biên, làm thiệt hại nặng hai Tiểu đoàn địch, diệt và bức hàng nhiều đồn bót mở ra khả năng thực tế mới cho chiến trường Bạc Liêu và Tây Nam bộ nói chung.
Sau An Biên, tháng 4-1954, không chỉ phá tan thế uy hiếp của địch đối với các vùng căn cứ kháng chiến ở U Minh, bộ đội và du kích Bạc Liêu tiếp tục tấn công địch ở Giá Rai, Vĩnh Lợi, thị trấn Cà Mau, ven thị xã Bạc Liêu, gỡ nhiều đồn bót tháp canh trên lộ Đông Dương 16, nhiều tuyến đường bộ, đường sông quan trọng do địch nắm giữ đều bị ta đánh phá và cắt đứt .
Trên toàn chiến trường Phân liên khu miền Tây ta chủ động tấn công địch phần lớn trên chiến trường. Tiểu đoàn 308 phối hợp với bộ đội Vĩnh Trà, Bến Tre và du kích địa phương phá hầu hết đồn bót địch ở nông thôn.
Lực lượng vũ trang Long Châu Hà mở vùng hoạt động từ Tân Hội ra Núi Sập. Tiểu đoàn 307 phối hợp lực lượng vũ trang Rạch Giá tấn công các vị trí địch ở phân khu Rạch Giá, uy hiếp và bức rút đồn Tràm Chẹt và 12 lô cốt trên lộ Cái Sắn.
Ngày 10/7/1954 ta mở màn đợt tấn công mới vào các vị trí địch ở Bình Thủy (Cần Thơ), thị trấn Rạch Sỏi (Rạch Giá) và thị xã Sóc Trăng. Trong 7 ngày lực lượng vũ trang Cần Thơ, Sóc Trăng đánh 48 đồn bót, diệt 200 tên địch .
Ở Gò Công trong vòng một tuần lễ – từ 22 đến 29-2-1954 – bằng cách kết hợp tiến công với địch ngụy vận, quân và dân Gò Công tiêu diệt, bức hàng, bức rút 74 đồn bót và tháp canh, diệt và bắt sống hàng trăm tên, làm rã ngũ hơn 1.000 tên khác, thu hàng trăm vũ khí các loại, giải phóng 30 trong tổng số 41 xã của huyện Gò Công . Các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Trà, Bạc Liêu, Rạch Giá, Long Châu Hà đều diễn ra nhiều hoạt động tiến công địch. Ở Vĩnh Trà trong 15 ngày đầu tháng 5-1954, ta đánh 417 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 3.700 tên địch, gỡ 62 đồn bót.
Ở Bến Tre từ tháng 2-1954 các vùng An Hóa, Mỏ Cày, Ba Tri, Thạnh Phú đều chuyển lên tranh chấp . Ở Hà Tiên, địch chỉ còn đóng quân ở thị xã Hà Tiên và thị trấn Dương Đông của Phú Quốc . Tình trạng địch “Án binh bất động”, xin “Trung lập hóa” trở nên phổ biến, nhất là các đơn vị địch bị điều đi ứng chiến với bộ đội Việt minh.
Trong khi đó ở Phân liên khu miền Đông, ngày 22-2-1954 Tiểu đoàn 309 phối hợp du kích và bộ đội địa phương Châu Thành (Vàm Cỏ) tiến đánh bót Vĩnh Công, phục kích diệt gọn 1 Tiểu đoàn và 1 đại đội quân địch; sau đó ngày 24-2-1954 Tiểu đoàn 309 và quân dân Châu Thành Long An lại Trận Miễu Bà Cố ở Hiệp Thạnh - Phú Ngãi Trị, tiêu diệt Tiểu đoàn 502 và Đại đội 14 của địch.
Ở Thủ Biên, Tiểu đoàn 303 cùng bộ đội huyện Châu Thành tiến công đồn Cầu Định nằm ven lộ 13 (cách thị xã Thủ Dầu Một 8km về phía bắc), diệt và bắt sống toàn bộ đại đội commando, thu nhiều vũ khí. Phát huy chiến thắng Cầu Định, Đại đội 65 và Đại đội Lê Hồng Phong (Bến Cát) diệt đồn Bến Tranh (3-6-1954), Đại đội 55 và Đại đội Nguyễn An Ninh (Lái Thiêu) diệt đồn Cây Trắc (7-6-1954) .
Ngay ở vùng ven Sài Gòn, chỉ riêng tháng 3-1954, du kích và quần chúng tiến công, san phẳng gần 20 đồn, bốt địch. Đêm 31-5 rạng ngày 1-6-1954, Đội biệt động 205 của Sài Gòn-Chợ Lớn đánh kho đạn và xăng Phú Thọ Hòa lớn nhất Đông Dương .
Ngoài hoạt động vũ trang được đẩy mạnh, Tây Nam bộ còn đặc biệt chú trọng công tác địch ngụy vận. Phong trào địch ngụy vận ở Nam bộ được tiến hành từ lâu, đến Đông Xuân 1953-1954 thì được điều chỉnh lại cho đúng yêu cầu của kháng chiến. Cụ thể là xác định "ngụy quân không phải là thù và cũng không phải hoàn toàn là bạn... là bộ máy quân sự của đế quốc và bù nhìn đang dùng chống lại kháng chiến" . Việc đẩy mạnh chiến tranh nhân dân địa phương đã mở ra khả năng thực tế cho hoạt động địch ngụy vận, nhân dân vận động gia đình gọi con em đi lính cho giặc bỏ ngũ trở về, hoặc làm nội ứng cho quân ta chiếm đồn, uy hiếp bức hàng nhiều bốt khi bị đột nhập... Đây là mũi tiến công quan trọng nhất của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cuối của chiến tranh. Nhiều địa phương, đồn địch bị gỡ mà ta gần như không tiêu hao lực lượng. Ở An Quy (Bến Tre), nhờ có cơ sở nội ứng, ta diệt gọn trung đội bảo an, bắt 25 tên, thu toàn bộ vũ khí.
Ở đảo Phú Quốc, ta tổ chức cho gần 300 tù chính trị vượt ngục, về đất liền, tham gia chiến đấu... Theo tổng kết, trong Đông Xuân 1953-1954, phân liên khu miền Tây làm tan rã hơn 4.200 ngụy binh , phân liên khu miền Đông có hơn 4.000 tên địch bỏ ngũ, 6 đại đội và 5 trung đội tan rã không xây dựng lại được .
Thực tế chiến trường cả nước cho thấy, thắng lợi của quân đội nhân dân Việt Nam trong Đông Xuân 1953-1954 phá tan kế hoạch Na-va, tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở các chiến trường phía Bắc, đã tạo ra những nhân tố mới, sức mạnh mới cho phong trào tiến công - nổi dậy ở Nam bộ và các chiến trường phối hợp, trong đó chiến thắng quân sự giải phóng An Biên là một minh chứng hùng hồn. Đến lượt mình, chiến thắng An Biên trong phong trào tiến công - nổi dậy ở Nam bộ và các chiến trường phối hợp trước – trong và sau chiến thắng Điện Biên Phủ, vừa cộng hưởng và mở rộng thắng lợi trên chiến trường chính, vừa mở ra khả năng mới cho cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi bằng biện pháp quân sự.
Chiến thắng An Biên là chiến thắng quân sự diễn ra trong điều kiện và hoàn cảnh chiến trường phối hợp thời kỳ Đông xuân 1953-1954; giá trị đích thực nhất của nó báo hiệu rõ ràng ngay từ thực tế chiến trường Phân liên khu miền tây Nam bộ khả năng giành thắng lợi hoàn toàn về quân sự và kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bằng quân sự. Khả năng này xuất hiện trước khi xuất hiện khả năng thứ hai kết thúc chiến tranh bằng đàm phán mà Hội nghị Genève mở ra. Cả hai khả năng đều có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, nhưng kết thúc kháng chiến bằng thắng lợi quân sự vẫn là có lợi nhất, cần thiết nhất đối với Việt Nam.
Mặc dù khả năng kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp hoà bình đã trở nên ngày càng thực tế hơn, nhưng cũng như chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng quân sự An Biên cùng phong trào tiến công - nổi dậy ở Nam bộ và các chiến trường phối hợp khác trong và sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đã hình thành và phát triển thế cài răng lược của cuộc kháng chiến trường kỳ - thế chiến lược vô cùng lợi hại của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Như thế nó cũng tạo ra cơ sở cho việc Hiệp định hoà bình phản ảnh trung thực hơn hiện trạng chiến trường của cuộc chiến tranh nhân dân ở phía Nam. Điều đó có thể cho phép suy nghĩ về một khả năng không cần giải pháp chuyển quân tập kết khi có Hiệp định lập lại hoà bình ở Việt Nam. Nhưng thực tế ấy mãi mãi chỉ là một bài học không có trong hiện thực lịch sử.
https://nguoilambaokiengiang.vn/m/183/1918/Chien-thang-An-Bien--1954--va-kha-nang-ket-thuc-Cuoc-khang-chien-chong-thuc-dan-Phap.html



