Bài viết

Chiến thắng Điện Biên Phủ - giá trị lịch sử và tầm vóc, ý nghĩa thời đại

17/08/2026xã Thạnh Phú (Xã Thạnh Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cách đây tròn 70 năm, trên cánh đồng Mường Thanh, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, quân và dân ta đoàn kết một lòng, vượt qua muôn vàn khó khăn, kiên cường chiến đấu oanh liệt làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu” - một trong những chiến công hiển hách nhất, vang dội nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ - giá trị lịch sử và tầm vóc, ý nghĩa thời đại

Bộ đội ta xung phong đánh chiếm lô cốt của địch ở cứ điểm C1. Ảnh: TTXVN   

Chiến thắng Điện Biên Phủ hào hùng năm xưa đã kinh qua theo năm, tháng với những thành quả chiến đấu, xây dựng và bảo vệ vững chắc độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta suốt 70 năm, nhưng tầm vóc lớn lao và ý nghĩa thời đại sâu sắc, những giá trị lịch sử quý báu của sự kiện trọng đại này vẫn còn nguyên giá trị không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với toàn nhân loại.

Thứ nhất, tạo cơ sở căn bản ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương

Từ ngày 13-3-1954, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định huy động sức mạnh toàn dân tộc, thực hành “trận quyết chiến chiến lược” đập tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào loại kiên cố, hiện đại nhất của quân đội Pháp ở Đông Dương khi đó nhằm kết thúc sự nghiệp chống thực dân Pháp xâm lược. Trong bối cảnh đó, ngày 26-4-1954, Hội nghị Geneva được triệu tập để bàn về Triều Tiên và Đông Dương. Mở đầu bằng các cuộc thảo luận liên quan tới Triều Tiên. Và, trong khi, ngày 8 tháng 5, Hội nghị bắt đầu bàn về vấn đề Đông Dương, thì bất ngờ ngày 7-5-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ của quân và dân Việt Nam giành toàn thắng. Sự kiện này, mở đầu quá trình đàm phán kéo dài, phức tạp liên quan tới Việt Nam và Đông Dương.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, dân tộc Việt Nam đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp; đặt dấu chấm hết đối với chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới; đưa Việt Nam bước vào đàm phán trên tư thế người chiến thắng, trong khi đó, thất bại của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ đẩy Chính phủ Pháp vào “bi kịch” ở Geneva cả quân sự, chính trị, ngoại giao; làm cho Pháp phải từ bỏ lập trường chỉ giải quyết vấn đề quân sự. Thắng lợi này còn đẩy quân Pháp trên chiến trường Đông Dương vào tình thế vô cùng khó khăn. Đồng thời, cũng làm cho các nước lớn trong Hội nghị chuyển sang ủng hộ một giải pháp toàn bộ cho vấn đề Đông Dương, mặc dù ban đầu, cũng ủng hộ công thức Triều Tiên.

Ngày 21-7-1954, Chính phủ Pháp, sau 75 ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp, cùng các bên tham dự Hội nghị phải ký kết Hiệp định Geneva. Hiệp định này có giá trị vô cùng quan trọng bởi các vấn đề chính trị và pháp lý, do các nước đã ký các văn kiện công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam gồm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, là cơ sở pháp lý cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đấu tranh trong các giai đoạn tiếp theo.

Thứ hai, mở ra thời kỳ mới để dân tộc ta tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước

Thắng lợi của quân và dân ta trong sự nghiệp chống thực dân Pháp xâm lược đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại, những thay đổi căn bản trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao…; mở đầu một thời kỳ mới - cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; miền Nam là tiền tuyến lớn, tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ to lớn đó, Trung ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bước xác định, hoàn thiện, thực hiện thành công đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ của cả nước cũng như đối với từng miền, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn thách thức hiểm nghèo, giành được thắng lợi to lớn, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, tiến lên giáng đòn quyết chiến chiến lược vào Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Suốt những năm ròng chống Mỹ xâm lược, để hoàn thành: Độc lập, tự do, thống nhất đất nước, Đảng ta xác định: “Điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam”; “Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố” (1); “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt” (2).

Hậu phương miền Bắc đã thực sự trở thành căn cứ địa cách mạng rộng lớn, vững chắc cho sự nghiệp chống Mỹ xâm lược của cả nước; nơi tiếp nhận mọi sự giúp đỡ của thế giới, cải tiến, cải biên, cung cấp tối đa sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, cách mạng Lào, Campuchia đánh Mỹ; luôn củng cố niềm tin chiến thắng vững chắc cho nhân dân ta và bạn bè quốc tế vào thắng lợi cuối cùng trong sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa. Đó là nhân tố nội lực có tính chất quyết định đưa đến thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc đọ sức với đế quốc Mỹ, đúng như Đảng ta khẳng định: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước” (3).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn