Chiến thắng Điện Biên Phủ và việc kết thúc cuộc Kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam (1)
Giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ là cuộc chạy đua nước rút quyết liệt nhất, cuộc đấu trí, đấu lực gay gắt nhất giữa nhân dân Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược trên con đường đi tới bàn đàm phán hòa bình ở Giơnevơ (Genève) để kết thúc chiến tranh. Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ là hai sự kiện kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam, góp sức cùng nhân loại làm cho thế kỷ XX trở thành Thế kỷ giải trừ chủ nghĩa thực dân (décolonisation).
Từ khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, với quan điểm nhân đạo và hoà bình, Chính phủ Việt Nam chủ trương giải quyết xung đột thông qua thương lượng. Đây là lập trường nhất quán của Chính phủ và nhân dân Việt Nam ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Vì thế Chính phủ Việt Nam đã chủ động đàm phán và nhân nhượng cho thực dân Pháp nhiều quyền lợi, thể hiện qua Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9 (1946). Việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng. Khi chiến tranh đã bùng nổ, Chính phủ Việt Nam vẫn nỗ lực vãn hồi hoà bình, Chủ tịch Chính phủ nhiều lần gửi thư đến Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Pháp đề nghị ngưng chiến để đàm phán, nhưng khi đó thực dân Pháp đang nuôi hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự. Những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam không được đáp ứng. Dân tộc Việt Nam hiểu rằng chỉ có thể giành độc lập tự do khi nào làm thất bại được những âm mưu quân sự của bọn xâm lược Pháp.
Thắng lợi quân sự là cơ sở thực lực cho đấu tranh ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn". Sẽ không thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán nếu không có thắng lợi trên chiến trường.
Đàm phán và nhân nhượng không phải là sự nhu nhược. Một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải kiên quyết tiến hành chiến tranh. "Đã phải đánh thì kiên quyết đánh"[1], dân tộc Việt Nam vùng dậy kháng chiến vì độc lập tự do với tinh thần "Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"[2]. Với niềm tin "Địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta"[3], dựa vào tinh thần hăng hái của toàn dân để giải quyết những thiếu thốn về vật chất, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh kiên quyết phát động cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện với phương châm chiến lược đánh lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã từng bước giành thắng lợi, nhất là từ Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, với thế tiến công chiến lược ngày càng phát triển, lực lượng vũ trang ba thứ quân trưởng thành, hậu phương kháng chiến đuợc xây dựng và củng cố vững mạnh. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam được sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân, phối hợp với Đảng Cộng sản Pháp, kết hợp với phong trào bảo vệ hoà bình thế giới và phong trào phản chiến ở Pháp. So sánh lực lượng trên chiến trường thì tình hình ngày càng có lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, là lợi thế của Việt Nam trên bàn đàm phán.
A. Patti (Archimedes L. A. Patti), nguyên sĩ quan tình báo Mỹ, nhận xét: "Ngày 13 tháng ba, Quân đội nhân dân Việt Nam dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tướng Giáp khởi đầu cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ. Cái pháo đài mới được tăng cường này đã có tầm quan trọng về chính trị và tâm lý hơn hẳn giá trị chiến lược thực tế của nó vì Hội nghị Giơnevơ sắp khai mạc. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thấy được một cách đúng đắn đây là một trận đánh có tính chất quyết định, không phải chỉ nhằm giành được một chiến thắng vang dội mà sẽ làm cho họ mạnh hẳn lên, họ đã chuẩn bị bao vây cứ điểm này
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng còn nhằm đánh cho quân đội Liên hiệp Pháp một đòn chí tử để gây tác động tâm lý đối với nước Pháp, làm nhân dân Pháp và những người chống cộng Việt Nam mất ý chí tiếp tục cuộc đấu tranh"[4].
Chủ trương của Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam trước sau như một là nỗ lực vãn hồi hoà bình, chủ trương giành thắng lợi về quân sự kết hợp với giải pháp ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến.
Ngày 26-11-1953, trong bài trả lời điện phỏng vấn của chủ bút báo Tin nhanh (Expressen) của Thuỵ Điển, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nguyên nhân và tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tuyên bố lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà:
"... nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó". "Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam"[5].
Ngày 27-12-1953 ,Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra thông tri về lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhà báo Thuỵ Điển, nêu rõ: "Trong lịch sử, có nhiều cuộc chiến tranh do thương lượng hoà bình mà đi đến đình chiến". "Nhân dân ta chiến đấu chống bọn xâm lược là vì độc lập dân tộc, mà cũng vì hoà bình thế giới. Thực dân Pháp và can thiệp Mỹ là kẻ thù của dân tộc ta, đồng thời cũng là kẻ thù của nhân dân thế giới". "Ngọn cờ hòa bình phải do tay ta nắm lấy và giương cao lên"[6].
Đảng Lao động Việt Nam chủ trương trong đàm phán hoà bình cần có sự nhân nhượng lẫn nhau: "Muốn đàm phán có kết quả thì ta phải nhân nhượng, nhưng nhân nhượng có chừng mực, trong nguyên tắc, và đối phương cũng phải nhân nhượng với ta".
"Phải tránh tả khuynh, đặt yêu cầu quá cao cho cuộc đấu tranh ngoại giao, làm cho các cuộc đàm phán bị bế tắc. Nhưng cũng phải chống hữu khuynh, nhượng bộ cho địch quá mức, làm cho nhân dân chán nản và kẻ địch được đằng chân lân đằng đầu.
Nguyên tắc căn bản về đấu tranh ngoại giao của ta là:
1- Kết hợp nguyên tắc tính rất cao với linh động tính đúng mức.
2- Yêu cầu của ta chủ yếu là căn cứ vào lực lượng so sánh giữa ta và địch mà định.
3- Đặt vấn đề Đông Dương vào trong vấn đề bảo vệ hoà bình và dân chủ thế giới đặng giải quyết một cách thích đáng".
Thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam mở hướng đi tới một cuộc đàm phán để kết thúc chiến tranh.
2. Thực dân Pháp thất bại cả về quân sự và chính trị, cần tới bàn đàm phán để kết thúc chiến tranh.
Những năm 1946-1947, qua những lần tiếp xúc Việt - Pháp: Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, Hội nghị trù bị Đà Lạt (4-1946), Hội nghị chính thức ở Phôngtennơblô (Fontainebleau) từ tháng 7-1946, Tạm ước ngày 14-9-1946, cuộc gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh và Hoàng Minh Giám với Paul Mus tại Việt Bắc (5-1947), phía Pháp ngoan cố bám giữ lập trường thực dân cũ, không chịu công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam. Họ nuôi hy vọng giành thắng lợi bằng một cuộc chiến tranh thuộc địa, thậm chí chỉ bằng một cuộc hành quân chớp nhoáng. Việc đàm phán đối với họ chỉ là thủ đoạn để lấn dần từng bước và có thời gian chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Đối với thế lực phản động và hiếu chiến Pháp, Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 chẳng qua chỉ là một "hiệp định đổ bộ" (Accord de débarquement), cốt đạt được sự thoả thuận cho Pháp đưa quân ra miền Bắc Việt Nam.
Sau tám năm, cuộc chiến tranh thuộc địa của Pháp ở Đông Dương ngày càng đi sâu vào "đường hầm không lối thoát".
Kể từ Chiến dịch Thu Đông 1950 quân đội Pháp đã mất thế chủ động tiến công chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, ngày càng sa lầy trong một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, bị đánh ở cả phía trước mặt và phía sau lưng. Ngay ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi quân Pháp có hệ thống chiếm đóng mạnh để vơ vét sức người sức của phục vụ chiến tranh xâm lược, cũng có tới hai sư đoàn chủ lực của Việt Minh thường xuyên hoạt động - một điều rất đặc biệt so với những cuộc chiến tranh ở Trung Quốc và Liên Xô. Các tướng Pháp không sao giải quyết được mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực để vừa đạt mục đích quân sự (tiến công tiêu diệt chủ lực của đối phương) và mục đích của chiến tranh thuộc địa (cướp đất, giữ dân để khai thác về kinh tế).
Càng kéo dài chiến tranh, thực dân Pháp càng bị tổn thất nặng nề. Nó trở thành một gánh nặng về tâm lý và kinh tế cho người Pháp; buộc Pháp phải nhận viện trợ của Mỹ và lệ thuộc vào Mỹ; bị dư luận nước Pháp và quốc tế lên án mạnh mẽ. Phong trào phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu (La sale guerre) ở Pháp dâng cao. Nội bộ giới cầm quyền chia rẽ thành hai phái: chủ chiến và chủ hoà, đấu tranh gay gắt với nhau trong chính phủ và quốc hội, làm cho nội tình nước Pháp không ổn định. Sau tám năm tiến hành chiến tranh xâm lược Đông Dương, nước Pháp phải thay đổi chính phủ tới 18 lần. Trước khi thua trên chiến trường, bọn thực dân phản động Pháp đã thua ngay tại nước Pháp.
Chính phủ Lanien (Laniel) lên cầm quyền (28-6-1953) bắt đầu nghĩ đến một giải pháp chính trị thông qua thương lượng. Trong khi đó, chính sách kiên định của Mỹ là lái cho Pháp tránh xa khỏi bàn hội nghị trong khi chưa giành được những thắng lợi quan trọng trên chiến trường. Đalét (Dulles) nhiều lần nói với Biđôn (Bidault) rằng Mỹ thấy kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương trong điều kiện thuận lợi cho cộng sản là một điều không nên. Ông ta muốn người Pháp tiếp tục cuộc chiến vì Đông Dương là một mắt xích chủ yếu trong phòng tuyến ngăn chặn cộng sản trong khu vực. Pháp và Mỹ muốn thương lương trên thế mạnh đã dẫn tới việc Đại tướng H. Navarre được cử sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Kế hoạch quân sự Nava (H. Navarre) ra đời và được thông qua.
Trong Chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, kế hoạch đó không thể thực hiện được theo dự kiến, mà bị đảo lộn hoàn toàn do những cuộc tiến công chủ động và kiên quyết của chủ lực Việt Minh trên những hướng chiến lược quan trọng mà quân Pháp không thể bỏ. Navarre muốn tập trung nhưng lại phải phân tán binh lực; muốn giành quyền chủ động nhưng lại càng bị động đối phó lúng túng; muốn tiến công nhưng phải kéo quân đỡ đòn xuôi ngược khắp nơi. Theo đánh giá của tướng Êly (élly), bản đồ chiến tranh của Pháp ở Đông Dương tồi tệ hơn nhiều so với dự kiến trước đó. Quân Pháp đã mất ở Điện Biên Phủ "quả đấm tấn công".
Trong biển lửa của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam, khắp nơi quân đội Pháp ở vào tình trạng phân tán chiếm đóng "bất động" (immobilisation), tinh thần sa sút, phải thực hiện một sự bố trí hoàn toàn phòng ngự và cần phải tăng viện ngay. Nhưng khả năng tăng viện của Pháp lúc đó rất hạn chế vì phải gọi quân dự bị. Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) cho rằng tình hình quân sự và chính trị của Pháp ở Đông Dương tồi tệ. Nếu đà đó không được ngăn chặn thì nó sẽ đưa đến sự sụp đổ của Pháp vào nửa sau của năm 1954[7].
Thất bại ở Điện Biên Phủ làm tan tành cố gắng lớn nhất và cũng là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp với sự giúp sức của đế quốc Mỹ, làm cho thực dân Pháp không thể hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự, phong trào phản chiến ở Pháp phát triển mạnh. Nhiều tướng Pháp cho rằng Pháp không thể thắng, Việt Minh không thể thua. Laniel và Bildault phải từ bỏ chủ trương thương lượng trên thế mạnh. Nội bộ giới cầm quyền Pháp càng thêm chia rẽ, lục đục, đấu tranh gay gắt với nhau.
Sau khi Chính phủ Lanien sụp đổ, Chính phủ Măngđét Phơrăngxơ (Mendès France) lên thay (6-1954), chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh bằng thương lượng. Măngđét Phơrăngxơ hứa với Quốc hội và nhân dân Pháp là sẽ lập lại hòa bình ở Đông Dương trong vòng một tháng.
Thế là so với những năm đầu chiến tranh, ý chí xâm lược của thực dân Pháp đã bị đánh bại, thái độ của giới cầm quyền Pháp buộc phải thay đổi. Họ cần tới bàn đàm phán để kết thúc chiến tranh, tránh để cho Hà Nội có thể trở thành "một Điện Biên Phủ thứ hai", nơi mồ chôn quân viễn chinh Pháp.



