Chiến thắng Điện Biên Phủ: “Vành hoa đỏ” trong hồi ức người Thăng Long
Ngày này cách đây 50 năm, quân và dân ta đã làm nên thiên sử vàng Điện Biên Phủ. Trong chiến công vĩ đại của toàn dân tộc có sự đóng góp to lớn của các chàng trai, cô gái Hà Nội. Những câu chuyện kể của họ vừa qua thực sự là bài học quý giá cho thế hệ trẻ hôm nay.
Ngày này cách đây 50 năm, quân và dân ta đã làm nên thiên sử vàng Điện Biên Phủ. Trong chiến công vĩ đại của toàn dân tộc có sự đóng góp to lớn của các chàng trai, cô gái Hà Nội. Những câu chuyện kể của họ vừa qua thực sự là bài học quý giá cho thế hệ trẻ hôm nay.
Đại tá Huy Du - nguyên trưởng phòng Kế hoạch Cục Hóa học quân sự Bộ Tổng tham mưu, cán bộ tham mưu tác chiến Trung đoàn Pháo binh 675 thuộc Đại đoàn Pháo binh 351, chỉ huy Đại đội pháo 75 ly trong chiến dịch Điện Biên Phủ: “Bắn pháo chính xác như...kê khẩu súng lục bên tai địch”
Trong chiến dịch Điện Biên, tôi là cán bộ tham mưu tác chiến của trung đoàn.
Trong quá trình đánh địch, cán bộ bị thương vong, tôi được bổ sung xuống phụ trách đại đội. Kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi ở Điện Biên Phủ là đợt đánh đồi A, đồi C, đồi D và đồi E. Đồi A mình đánh không thắng ngay, đồi C nhùng nhằng, đồi D và E tiêu diệt được. Khi tiêu diệt được, yêu cầu là phải giữ chắc để giải quyết khu Đông, rồi khu trung tâm. Đơn vị chúng tôi đã mạnh dạn đề nghị đưa 3 khẩu đại pháo lên đồi, đặt 2 khẩu ở đồi E, 1 khẩu ở đồi D. Pháo ta từ trên đồi D, đồi E hằng ngày bắn chúc xuống, rất chính xác. Từ xưa đến nay, pháo binh chưa bao giờ làm như thế cả. Giống như là kê khẩu súng lục bên tai địch vậy.
Trận chiến rất ác liệt, có những khẩu đội không còn một ai. Khẩu pháo rất to, khó ngụy trang, chúng tôi phải dùng bao cát bịt lỗ châu mai. Suốt 36 ngày đêm gian khổ, ác liệt trên đồi E, đồi D, chúng tôi đã tiêu diệt được 2 trận địa pháo địch, mỗi trận địa pháo thu được 4 khẩu, một số xe tăng, chi viện đắc lực cho Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm ngoại vi Mường Thanh, để rồi cuối cùng thọc qua Mường Thanh, đánh vào hầm Đờ Cát.
Tôi quê ở Nhân Chính (Từ Liêm), nhưng thường xuyên sống ở nội thành - ngay phố Hàng Trống (Hoàn Kiếm) gần báo Hànộimới. Mỗi lần qua Bờ Hồ, tôi lại nhớ tuổi thơ, nhớ những ngày làm liên lạc cho UB Kháng chiến khu Hoàn Kiếm, chiến đấu trong Trung đoàn Thủ đô tại Hà Nội. Và đặc biệt là những tháng ngày không thể quên ở Điện Biên Phủ...
Đại tá Nguyễn Trọng Hàm- nguyên Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô, từng là chiến sĩ đội tự vệ danh dự “Thành Hoàng Diệu”, đại đội trưởng Tự vệ công nhân phố Hàng Thiếc, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trong đội hình Tiểu đoàn 387 cao xạ 12 ly 8:“Nghĩa tình là đây...”
Tiểu đoàn Pháo cao xạ chúng tôi bố trí trận địa ở Đông Nam Hồng Lĩnh, sát sân bay Mường Thanh - nơi tập trung hỏa lực địch, có nhiệm vụ khống chế máy bay tiếp tế của địch. Trận địa độc lập tác chiến, đòi hỏi chúng tôi vừa chiến đấu, vừa tự bảo vệ mình. Khá gay go và ác liệt. Chúng tôi đánh ở tầm thấp, khiến cho địch không thể thả dù đúng mục tiêu của chúng, thành ra có cái thú là rất nhiều đồ tiếp tế của chúng lại được thả sang trận địa của ta.
Ngày 6-5-1954, địch tập trung cố tiêu diệt trận địa này, đến chiều thì đơn vị bị thương vong khá nhiều, phần vì địch tập trung hỏa lực, phần vì lực lượng chúng quá đông. Thêm nữa, súng của ta không phải súng tác chiến của bộ binh. Ban chính trị tiểu đoàn bị gọi về kiểm điểm: Tại sao súng bắn lên, đạn lại không tới mục tiêu, cứ nửa chừng lại rơi xuống ? Hóa ra chỉ vì súng của mình đã được sử dụng tối đa công suất từ lâu, khương tuyến mòn vẹt cả, đầu đạn không đủ lực để bay tới đúng mục tiêu. Thế rồi 7-5 ta chiến thắng. Tất cả lại hòa vào không khí ngày hội.
Tôi năm nay 83 tuổi, mới có chuyến đi 27 tỉnh, thăm lại Điện Biên, rồi vào Nam. Chuyến đi để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc về hình ảnh đồng bào nườm nượp đến các nghĩa trang liệt sĩ ở trong Nam nhân tiết Thanh minh. Nghĩa tình là đây, lòng biết ơn những người đã hy sinh xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc là đây. Tôi cũng thấy có nhiều cháu học sinh đi thi quốc tế đoạt giải cao, mở ra triển vọng xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Biết giữ gìn, nối tiếp truyền thống anh hùng, chắc chắn đất nước mình sẽ còn phát triển đi lên.
Đại tá Lương Ngọc Trác - nguyên trưởng đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, trưởng đoàn Văn công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ:“Văn công biểu diễn, chiến sĩ...ngủ” !
30 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trong một đêm diễn tại Nhà hát lớn thành phố, tôi gặp một đại tá tóc bạc da mồi, bắt tay tôi nói là từng xem văn công biểu diễn trong chiến dịch. Tay bắt mặt mừng, tôi hỏi: “Cảm giác của ông về chương trình diễn hồi ấy thế nào ?”. Ông ấy cười ha hả: “Lần ấy tớ...ngủ”!.
Thực ra, câu chuyện rất xúc động. Hồi ấy, cứ có anh cán bộ nào vào hầm bảo “văn công biểu diễn nhé” là chúng tôi lại lục tục chuẩn bị. Các chiến sĩ vào xembiểu diễn vui lắm. Địch theo dõi gắt, anh em xem thích, thấy hay cũng không được hoan hô, chỉ dùng cử chỉ ra ý khen thôi. Nhưng cũng có hôm đang biểu diễn thì thấy các chiến sĩ ngủ gần hết. “Oánh” tiếng to đánh thức anh em, hay là không hát nữa ? Chúng tôi thảo luận và quyết định chọn những điệu múa, những bài hát êm “ru” bộ đội ngủ. Hết chương trình lại gọi anh em dậy kéo pháo.
“Cậu biết không. Trong giấc ngủ thiếp ấy, có lúc tớ mở mắt ra và chưa bao giờ tớ thấy những cô gái đẹp thế, những điệu nhạc êm ái đến thế...” - Tâm sự của vị khán giả...ngủ quên ấy thực sự là niềm vui, là phần thưởng cho anh em văn công chúng tôi.
Đại tá Lê Quang Toản - nguyên là y sĩ điều trị Trung đoàn 57, Sư đoàn 304, Viện phó Viện Quân y 103, tham gia cấp cứu thương bệnh binh ở Điện Biên Phủ: “Không bao giờ để mất danh “Thanh niên Hà Nội”
Khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi mới là sinh viên năm thứ tư Y khoa, chưa phải bác sĩ. Bộ đội thì đánh địch, còn tôi...cầm dao mổ. Tôi nhớ hồi đó nhiều khi mổ 3 - 4 ngày đêm không ngủ, thế mà tinh thần vẫn khỏe. Chân đi dép cao su, nước lõng bõng, quần xắn cao như quần đùi, đứng mổ suốt, chưa xong người này, đã thấy người khác hô: “Có thương binh sắp sửa về”. Nhiều khi chỉ chợp ngủ ghế. Thế nhưng dù gian khổ đến đâu, tinh thần khi đó không hề thay đổi, không hề kêu ca. Từ 13-3 đến 7-5, thương bệnh binh của 4-5 tiểu đoàn đưa về tuyến của tôi đều không có ai bị tử vong cả. Mấu chốt là “không sợ chết” và không bao giờ để mất tiếng mình là “thanh niên Hà Nội”. Bền lòng, bền chí và tin tưởng. Cuối cuộc chiến, cùng tiểu đoàn qua Sơn Tây, tôi nhìn về Hà Nội, ánh sáng đèn rực rỡ, nhớ không chịu được. Nhưng một khi chưa được phép, dù 9 năm đằng đẵng xa cách cũng không thể về thăm nhà.
Cách đây 15 năm, tôi cùng một đoàn bác sĩ sang giúp Angiêri theo chương trình hợp tác giữa Chính phủ hai nước. Một hôm ra chợ, cứ nghe thấy tiếng gọi “Giáp - Điện Biên Phủ”. Thì ra là một cô bé mẹ người Việt Nam, bố là lính lê dương Angiêri “thoát chết” ởĐiện Biên Phủ. Thấy tôi là người Việt Nam nên cô bé ấy gọi thế. Rồi cô bé xa lạ thân thiện bảo tôi “Khi nào chú cần gì, ra đây cháu mua hộ cho”. Ba tiếng “Điện Biên Phủ” quả là đã vang khắp nơi.
Bác sĩ thượng tá Phạm Thị Tín - nguyên y tá ở Đội điều trị số 3 trong chiến dịch Điện Biên Phủ: “Chỉ là một hạt cát góp vào chiến thắng”
Tháng 9-1954, tôi được góp mặt cùng đoàn phụ nữ Việt Nam dự lễ Quốc khánh 1-10 tại Bắc Kinh (Trung Quốc). Tôi rất xúc động khi các bạn nước ngoài nhìn thấy thiếu nữ Việt Nam là nói khá sõi: “Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ”. Có người đề nghị tôi đứng làm mẫu cho họ được đắp tượng nữ chiến sĩ Điện Biên. Tôi bảo: “Không được đâu. Tôi chỉ là một hạt cát góp vào chiến thắng lớn lao ấy. Còn biết bao tấm gương, bao anh hùng đã hy sinh xương máu để làm nên chiến thắng”.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi thực hiện 3 nhiệm vụ: chống choáng cho thương binh, chống sập hầm và chuyển thương kịp thời về tuyến sau. Để chống choáng cho thương binh, tôi lấy bi đông nước nóng ủ ấm cho họ. Không có cặp nhiệt độ, tôi phải dùng tay sờ vào mặt, vào ngực để kiểm tra xem người thương binh còn ấm không, tim còn đập không ? Để chống sập hầm, chúng tôi dò chỗ nứt, lở nhiều để kịp thời chuyển thương binh sang hầm khác. Chuyển thương phải chú ý theo hướng chuyển đầu trước - chân sau. Suốt 55 ngày đêm chiến đấu, không thương binh nào bị choáng, bị sập hầm cả. Nhiều lúc đói, mệt, thèm ngủ vô cùng. Nhưng thương binh về dồn dập, đang dựa chân cáng thương binh ngủ, thấy động là tôi lại dậy, ăn ngấu nghiến nắm xôi cho xong để kịp phục vụ anh em.
Còn nhớ 40 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi gặp lại một thương binh. Anh ấy vướng mìn khi chiến tranh sắp kết thúc, phải cưa chân để tránh nhiễm trùng máu. Anh dẫn tôi lên đồi Độc Lập, đùa bảo: “Cái chân cụt của tôi, chị để ở đâu ?”. Tôi nghĩ “Còn bao nhiêu người đã hy sinh, chúng ta chưa tìm được mộ chí...”.


