Chiến thắng đồn Tú Lệ – Bản hùng ca mở đường chiến dịch
Đầu năm 1952, thực dân Pháp đẩy mạnh âm mưu củng cố hệ thống phòng thủ kiên cố ở vùng núi Tây Bắc nhằm chiếm giữ vị trí chiến lược khống chế miền Bắc Việt Nam, đồng thời lập nên cái gọi là "Xứ Thái tự trị" để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng xây dựng một chuỗi các tập đoàn cứ điểm và đồn bốt phòng thủ dày đặc trải dài từ Nghĩa Lộ, Tú Lệ đến Sơn La, Lai Châu.
Đồn Tú Lệ (thuộc huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) nằm ở vị trí cửa ngõ chiến lược hiểm yếu, nơi tiếp giáp giữa vùng thấp Yên Bái và vùng núi cao Sơn La - Lai Châu. Tại đây, thực dân Pháp bố trí Tiểu đoàn Dù số 6 (6è BPC) – một trong những đơn vị tinh nhuệ bậc nhất của quân đội Pháp tại Đông Dương, do Thiếu tá Marcel Bigeard trực tiếp chỉ huy. Đồn được củng cố bằng hệ thống công sự bê tông kiên cố, hầm ngầm, hàng rào bùng nhùng nhiều tầng và bố trí vô số súng máy, hỏa lực hạng nặng nhằm biến Tú Lệ thành một "chốt chặn thép" không thể xâm phạm.
Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc (từ ngày 14/10 đến ngày 10/12/1952). Để xé rách tuyến phòng thủ then chốt của địch, Trung đoàn 148 được giao nhiệm vụ bao vây, tiêu diệt đồn Tú Lệ, mở màn cho hướng tiến quân chiến lược của toàn bộ chiến dịch.
1. Mở màn trận đánh: Sương mù che mắt địch, ý chí át bão đạn
Đêm tháng 10 năm 1952, không khí núi rừng Tây Bắc lạnh buốt. Dưới sự bao phủ của sương mù dày đặc và rừng núi hiểm trở, các chiến sĩ Trung đoàn 148 lặng lẽ áp sát lòng chảo Tú Lệ. Cụ Dậu cùng các đồng đội trong tổ bộc phá nhận nhiệm vụ vô cùng hiểm hóc: Áp sát và đánh phá cửa mở, tiêu diệt lô-kốt trung tâm của đồn Tú Lệ.
Thời điểm lệnh tiến công vang lên, pháo binh ta nhả đạn liên hồi vào các vị trí chỉ huy của địch. Tuy nhiên, tận dụng ưu thế hỏa lực mạnh và hệ thống công sự kiên cố, quân Pháp trong đồn điên cuồng điên tập trung đại liên, súng cối quét ra các ngả đường tiến quân của bộ đội ta. Nhiều chiến sĩ ta bị thương và hy sinh ngay tại hàng rào dây thép gai. Cửa mở chưa thể khai thông, tiến trình xung phong của các mũi hỏa lực bị chững lại trước làn đạn dày đặc từ lô-kốt chính của địch.
Nhận thấy nếu không mau chóng dập tắt hỏa lực từ lô-kốt chính, toàn bộ đội hình tiến công của Trung đoàn 148 sẽ bị lộ và chịu tổn thất nặng nề dưới hỏa lực pháo binh địch từ các đồn lân cận bắn sang, chiến sĩ Dậu đã đưa ra một quyết định dũng cảm.
Ông ôm lấy khối bộc phá nặng hơn 10kg, cắn răng nén đau khi bị mảnh đạn địch găm vào vai, lợi dụng từng góc bờ đất, hố bom và làn khói đạn mù mạt để trườn tới. Kẻ địch trên tháp quan sát liên tục xả từng tràng đạn cày xới mặt đất ngay sát thân mình ông. Bằng sự mưu trí của một người chiến sĩ dạn dạn kinh nghiệm chiến trường Tây Bắc, cụ Dậu kiên trì nhích từng bước một, vừa khéo léo tránh hướng quét của đèn chiếu và súng máy, vừa bảo vệ ngòi nổ bộc phá khô ráo.
Khi chỉ còn cách chân lô-kốt vài mét, cụ Dậu nhổm người giật dây cháy chậm rồi lao người văng ra hố đạn pháo ngay bên cạnh. Một tiếng nổ rung chuyển núi rừng vang lên, gạch đá và bê tông của lô-kốt địch bị đánh sập hoàn toàn, câm bạt hoàn toàn hỏa lực đại liên của địch.
Cú nổ bộc phá định mệnh của cụ Dậu chính là mệnh lệnh và tín hiệu mở đường sống còn. Ngay khi khói bộc phá chưa tan, từ các vị trí phục kích, bộ đội ta đồng loạt reo hò xung phong, vượt qua cửa mở đánh thẳng vào trung tâm đồn Tú Lệ.
Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt qua từng hầm ngầm và giao thông hào. Mất đi lô-kốt trung tâm và bị bất ngờ trước sức tiến công dũng mãnh của ta, quân Pháp rơi vào tình trạng hoảng loạn. Tiểu đoàn dù tinh nhuệ của Pháp bị tổn thất nặng nề, buộc phải tháo chạy hỗn loạn qua các triền núi để tìm đường rút về Nà Sản. Trận đồn Tú Lệ kết thúc bằng thắng lợi hoàn toàn của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trận thắng đồn Tú Lệ tháng 10/1952 không chỉ là một chiến công quân sự đơn thuần mà còn mang ý nghĩa chiến lược bước ngoặt đối với toàn bộ Chiến dịch Tây Bắc 1952:
Xóa bỏ chốt chặn then chốt: Đập tan cánh cửa phòng thủ phía Đông của địch, làm sụp đổ hoàn toàn mưu đồ co cụm phòng ngự và phân tán lực lượng của thực dân Pháp tại khu vực Yên Bái - Sơn La.
Tạo đà chiến lược: Chiến thắng này khai thông tuyến đường giao thông huyết mạch, tạo thế và lực để các đại đoàn chủ lực của ta tiến sâu giải phóng hàng vạn ki-lô-mét vuông đất đai cùng hàng chục vạn đồng bào các dân tộc Tây Bắc thoát khỏi ách đô hộ.
Tiền đề cho Đại thắng Điện Biên Phủ: Sự sụp đổ của tuyến phòng thủ Nghĩa Lộ - Tú Lệ đã buộc quân Pháp phải co cụm về Nà Sản và sau này là xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – nơi trở thành "mồ táng" cuối cùng của thực dân Pháp.
2. Tượng đài anh hùng và bài học truyền lửa cho thế hệ mai sau
Hành động ôm bộc phá lao lên dập tắt hỏa điểm địch của cụ Dậu cùng những đóng góp thầm lặng của tập thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 148 trong Trận đồn Tú Lệ đã trở thành một bản hùng ca mở đường chiến dịch.
Hình ảnh cụ Dậu là minh chứng sống động cho:
Lòng yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường: Sẵn sàng lấy thân mình làm cầu nối, không quản ngại hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Tinh thần mưu trí, sáng tạo trong tác chiến: Biết dựa vào địa hình, thời tiết và nghệ thuật sử dụng hỏa lực bộc phá để đánh sập các công sự kiên cố của một kẻ thù trang bị hiện đại hơn gấp nhiều lần.
Bài học về tình quân dân thắm thiết: Chiến thắng Tú Lệ còn ghi dấu sự cưu mang, dẫn đường và tiếp tế hậu cần không biết mệt mỏi của đồng bào các dân tộc Thái, H'Mông vùng cao Yên Bái - Lai Châu.
Hơn 70 năm đã trôi qua, khói đạn chiến trường trên đỉnh Tú Lệ xưa đã lùi xa, nhường chỗ cho những ruộng bậc thang vàng óng và những bản làng bình yên, phát triển. Nhưng ký ức về Trận đồn Tú Lệ tháng 10/1952 cùng tấm gương chiến đấu dũng cảm của cụ Dậu vẫn mãi mãi là một mốc son chói lọi, là biểu tượng anh hùng của lực lượng vũ trang nhân dân. Ký ức ấy nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị độc lập, tự do được đổi bằng máu xương và ý chí sắt đá của thế hệ cha anh đi trước.



