Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào 1971: Phá sản một bước cơ bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ
Bước sang năm 1971, thực hiện chiến lược “chiến tranh bóp nghẹt”, quân Mỹ và ngụy quân Sài Gòn tập trung lực lượng mở các cuộc tiến công trên chiến trường Lào, Campuchia, trong đó lớn nhất là cuộc tiến công ra vùng Đường 9 - Nam Lào mang tên “Cuộc hành quân Lam Sơn 719”.
Mục đích của cuộc hành quân là nhằm cắt đứt đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, triệt phá cơ sở hậu cần chiến lược, khiến bộ đội chủ lực của ta không thể đánh lớn trong năm 1971 - 1972; đồng thời rèn luyện khả năng tác chiến của ngụy quân để thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, thay thế quân Mỹ rút dần về nước. Về lực lượng, địch huy động lúc đầu 3 sư đoàn (bộ binh, dù, thủy quân lục chiến) và Liên đoàn Biệt động quân số 1, 2 lữ đoàn thiết giáp (gồm 7 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn của quân Mỹ), 16 tiểu đoàn pháo binh (có 5 tiểu đoàn của quân Mỹ), 700 máy bay các loại, tổng số quân khoảng 42 nghìn (có 9 nghìn lính Mỹ). Trong quá trình hành quân được bổ sung thêm 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến (369), Trung đoàn Bộ binh 4 thuộc Sư đoàn Bộ binh 2 và một số đơn vị hỏa lực, nâng tổng quân số lên 55 nghìn (có 15 nghìn lính Mỹ), 578 xe tăng, xe thiết giáp, 318 khẩu pháo từ 105mm trở lên. Ngoài ra, quân đội tay sai Lào (quân đội phái hữu Lào) tham gia phối hợp có 2 binh đoàn cơ động (30, 31) gồm 9 tiểu đoàn bộ binh.
Xác máy bay trực thăng của Mỹ bị quân giải phóng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) bắn rơi trên đồi Không Tên, thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Lương Nghĩa Dũng/TTXVN)Theo kế hoạch, địch từ hướng Đông tiến công bằng nhiều cánh theo trục Đường 9 là chủ yếu, phối hợp với quân đội tay sai Lào từ hướng Tây đánh sang; cơ động lực lượng bằng trực thăng là chính, kết hợp với hành quân bộ; nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn (tỉnh Savannakhet, Lào), chiếm giữ Đường 9 (Bản Đông, huyện Sê Pôn) tạo thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương; lùng sục triệt phá kho tàng xung quanh Sê Pôn và khu vực từ Sađi - Mường Noọng đến A Sầu - A Lưới. Về phía ta, nhận định khả năng địch có thể tiến công hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, đồng thời cũng dự kiến khả năng địch đánh ra phía Nam Quân khu 4, để chuẩn bị phương án đối phó, ngay trong năm 1970, Bộ Quốc phòng ra Quyết định 200/QĐ-QP thành lập Binh đoàn 70 (10-10-1970) gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, và 320), Trung đoàn Pháo binh 45, Trung đoàn Pháo phòng không 241 và một số đơn vị trực thuộc, bố trí ở phía Nam Quân khu 4, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Khi địch bắt đầu cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công ở khu vực này với nhiệm vụ tiêu diệt lớn lực lượng chủ lực cơ động của địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược của ta, phối hợp và tạo điều kiện để các chiến trường khác tiến công, đánh phá “bình định” của địch. Ngày 4-2-1971, Bộ Quốc phòng ra Quyết định 51/QĐ-QP thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ tư lệnh 702), do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Ta huy động lực lượng gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (177, 297, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn pháo phòng không (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ Quốc phòng và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Quân khu Trị - Thiên (B4), Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5).
Xác máy bay trực thăng của Mỹ bị quân giải phóng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) bắn rơi trên đồi Không Tên, thuộc huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Lương Nghĩa Dũng/TTXVN)Theo kế hoạch, địch từ hướng Đông tiến công bằng nhiều cánh theo trục Đường 9 là chủ yếu, phối hợp với quân đội tay sai Lào từ hướng Tây đánh sang; cơ động lực lượng bằng trực thăng là chính, kết hợp với hành quân bộ; nhanh chóng đánh chiếm Sê Pôn (tỉnh Savannakhet, Lào), chiếm giữ Đường 9 (Bản Đông, huyện Sê Pôn) tạo thành tuyến ngăn chặn cắt đôi Đông Dương; lùng sục triệt phá kho tàng xung quanh Sê Pôn và khu vực từ Sađi - Mường Noọng đến A Sầu - A Lưới. Về phía ta, nhận định khả năng địch có thể tiến công hành lang vận chuyển chiến lược của ta ở Trung - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, đồng thời cũng dự kiến khả năng địch đánh ra phía Nam Quân khu 4, để chuẩn bị phương án đối phó, ngay trong năm 1970, Bộ Quốc phòng ra Quyết định 200/QĐ-QP thành lập Binh đoàn 70 (10-10-1970) gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, và 320), Trung đoàn Pháo binh 45, Trung đoàn Pháo phòng không 241 và một số đơn vị trực thuộc, bố trí ở phía Nam Quân khu 4, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Khi địch bắt đầu cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch phản công ở khu vực này với nhiệm vụ tiêu diệt lớn lực lượng chủ lực cơ động của địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược của ta, phối hợp và tạo điều kiện để các chiến trường khác tiến công, đánh phá “bình định” của địch. Ngày 4-2-1971, Bộ Quốc phòng ra Quyết định 51/QĐ-QP thành lập Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (gọi tắt là Bộ tư lệnh 702), do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Ta huy động lực lượng gồm 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 4 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (177, 297, 397, 198), 4 trung đoàn pháo binh (368, 38, 45, 84), 4 trung đoàn pháo phòng không (230, 237, 241, 491), 3 trung đoàn công binh (7, 83, 219), một số tiểu đoàn đặc công của Bộ Quốc phòng và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Đoàn 559, Quân khu Trị - Thiên (B4), Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5).

