Chiến thắng Xuân Lộc mở cánh “cửa thép” cho các binh đoàn chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn
Chiến thắng Xuân Lộc mở cánh “cửa thép” cho các binh đoàn chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn
Chiến thắng Xuân Lộc đã đập tan “cánh cửa thép” trên tuyến phòng thủ ở cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Nó “làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ của địch ở xung quanh Sài Gòn, làm cho tinh thần quân địch thêm suy sụp” (1). Thắng lợi của Chiến dịch đã tạo ra một thế trận mới có lợi cho ta để đi tới trận quyết chiến chiến lược cuối cùng – Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh vào sào huyệt của chính quyền Sài Gòn, giành thắng lợi quyết định.Sau khi mất Tây Nguyên và miền Trung (Vùng chiến thuật 1 và 2), Mỹ - ngụy vội vã tổ chức một tuyến phòng thủ mới kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh. Trong tuyến phòng thủ này, Xuân Lộc - một thị xã thuộc tỉnh Long Khánh (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), cách Sài Gòn 60km về phía Đông là trọng tâm nhằm ngăn ta cơ động theo đường 1 và đường 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Tướng Mỹ Uây oen (Frederick C.Weyand) - Tham Mưu trưởng Lục quân Mỹ đã từng cảnh báo Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu rằng “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn” vì vậy “Phải giữ cho được Xuân Lộc”. Để làm được việc này, địch đã tập trung một lực lượng lớn cho tuyến phòng thủ trọng điểm Xuân Lộc gồm: Sư đoàn 18 bộ binh (thuộc Quân đoàn 3), 1 liên đoàn Biệt động quân, 1 trung đoàn Thiết giáp, 9 tiểu đoàn Bảo an. Trong quá trình chiến đấu được tăng cường Lữ đoàn Dù 1, Trung đoàn Bộ binh 8 (Sư đoàn 5), 1 Liên đoàn Biệt động quân, 1 Trung đoàn Thiết giáp (2). Về phía ta, sau Chiến dịch Tây Nguyên (3 – 24/3/1975) và Chiến dịch Huế - Đà Nẵng (21 - 29/ 3/1975), ta đã tạo ra thời cơ mới. Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp và kết luận “Cuộc chiến tranh cách mạng ở Việt Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt mà thời cơ chiến lược để tiến hành Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa vào sào huyệt cuối cùng của địch đã chín muồi” (3). Bộ Chính trị quyết định: “Nắm vững hơn nữa thời cơ chiến lược với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng tư, không thể để chậm” (4). Ngày 01/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng điện cho các đồng chí Văn Tiến Dũng, Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh: “Vấn đề quyết định là phải kịp thời nắm lấy thời cơ, quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc. Mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi tập trung lực lượng đông đủ mới làm ăn” (5). Theo tinh thần chỉ đạo này, Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam quyết định mở Chiến dịch Xuân Lộc nhằm tiêu diệt Sư đoàn 18 ở vòng ngoài, đập tan một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ thép của quân ngụy, mở cánh cửa phía Đông để bộ đội ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. 
Chỉ huy Trung đoàn 3 (Sư đoàn 304) bàn phương án tác chiến
trong Chiến dịch Xuân Lộc. Ảnh Internet Để thực hiện vụ này, ta sử dụng lực lượng Quân đoàn 4 (Sư đoàn 7, Sư đoàn 341), Sư đoàn Bộ binh 6 (Quân khu 7), 1 trung đoàn Tăng -Thiết giáp, 1 trung đoàn Pháo binh. Trong quá trình chiến đấu, Trung đoàn 95 B (Sư đoàn 325) và một đại đội xe tăng được điều động tăng cường. Chiến dịch do đồng chí Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, đồng chí Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Theo kế hoạch đã xác định, sáng mùng 9/4/1975, Chiến dịch bắt đầu. Ta nổ súng tiến công vào Xuân Lộc và Tiểu khu Long Khánh nhưng bị địch phản kích quyết liệt nên các mục tiêu đều không dứt điểm được. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 165 của Sư đoàn 7 đánh căn cứ Sư đoàn 18 ngụy, cách cổng 300m bị chặn lại, phải chuyển sang đánh chiếm hậu cứ Chiến đoàn 52 của địch. Hướng thứ yếu, Trung đoàn 266 của Sư đoàn 341 đánh Tiểu khu Long Khánh, chiếm được các Khu Thông tin và Khu Cảnh sát nhưng không chiếm được Dinh Tỉnh trưởng. Hướng phối hợp, Sư đoàn 6 (Quân khu 7) tập kích chiếm được 5 chốt ở Ngã ba Dầu Giây và làm chủ một đoạn quốc lộ 1A (đoạn Hưng Nghĩa - Đèo Mẹ bồng con). Ngày 10/4, ta tiếp tục đánh căn cứ Sư đoàn 18 ở Xuân Lộc, chiếm sân bay, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 43 của Sư đoàn 18. Trước nguy cơ bị thất thủ, địch tăng cường lực lượng quyết tâm bảo vệ Xuân Lộc. Ngày 12/4, địch đổ Lữ đoàn Dù 1 xuống ngã ba Tân Phong, tiếp đó điều Lữ đoàn 3 Thủy quân lục chiến, và Chiến đoàn 318 Biệt động đến Trảng Bom, Chiến đoàn 322 Biệt động đến Bàu Cá, Chiến đoàn 315 ở Bầu Hàn, Điểm cao 122, Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 từ Lai Khê sang Bầu Cá. Như vậy, địch đã tập trung vào khu vực này tới 50% lực lượng bộ binh, 60% lực lượng pháo binh và hầu hết xe tăng, xe thiết giáp của Quân đoàn 3 cùng lực lượng Tổng dự bị chiến lược (tương đương một sư đoàn). Không quân địch ở các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất được huy động trung bình 80 lần chiếc/ngày để trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích. Chúng còn dùng cả bom CBU55 – loại bom có sức hủy diệt lớn, thế giới cấm sử dụng để ngăn chặn ta. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch ngày càng quyết liệt. Sau 5 ngày mở Chiến dịch, ta đã chiếm được một số mục tiêu, diệt một bộ phận sinh lực địch và giữ được một số địa bàn quan trọng, nhưng ta chưa diệt gọn được một tiểu đoàn nào của chúng. Địch phản kích quyết liệt, bộ đội thương vong nhiều. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định thay đổi cách đánh. Từ nhận định “toàn tuyến phòng thủ Sài Gòn - Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối với Biên Hòa”, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm Ngã ba Dầu Giây, cắt Đường 1, chặn đánh địch từ Trảng Bom lên, đánh chiếm Tân Phong, cắt đường 2 đi Bà Rịa. Theo phương án này, Quân đoàn 4 đã ra lệnh cho các đơn vị ngừng tiến công thị xã. Mỗi sư đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn kiềm chế, nghi binh dịch, còn lại lui ra phía sau củng cố, làm lực lượng cơ động. Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B (mới được tăng cường) tổ chức bao vây tiêu diệt Chiến đoàn 52 địch, thực hiện chốt chặn chiến dịch, diệt quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích. Trung đoàn 209 triển khai khu vực phía Bắc Chi khu Tân phong chặn đánh Lữ đoàn 1 Dù, không cho chúng vượt qua cầu Gia Liên để phối hợp với Chiến đoàn 43 trong thị xã. Trong khi ta chuyển thế trận, địch tưởng rằng chúng đã đẩy lùi được cuộc tiến công của ta nên rất chủ quan. Đột nhiên, rạng sáng ngày 15/ 4, pháo chiến dịch bắn dồn dập vào sân bay Biên Hòa, cùng lúc Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tiêu diệt Chiến đoàn 52, diệt gọn 1 tiểu đoàn Pháo, 1 chi đoàn Thiết giáp, giải phóng hoàn toàn Chi khu Gia Kiệm, Ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Đường 1 đoạn Xuân Lộc - Bầu Cá, đường 20 đoạn Túc Trưng - ngã ba Dầu Giây. Ngày 16/4, Sở Chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 3 ngụy ở Trảng Bom ra lệnh cho Lữ đoàn 3 Thiết giáp cùng Chiến đoàn 8 của Sư đoàn 5 và pháo ở Căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Bình Đại, Đại An tổ chức phản kích hòng chiếm lại khu vực Ngã ba Dầu Giây. Song quân địch gặp phải sự kháng cự quyết liệt của Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tại Hưng Nghĩa và điểm cao 122, bị thiệt hại 1 tiểu đoàn, bị bắt hơn 100 tên. Cùng thời gian này, tại Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 liên tục quần nhau với địch, đánh thiệt hại nặng Chiến đoàn 43 và Chiến đoàn 48 của Sư đoàn 18, diệt một bộ phận quân Dù.
Bộ đội Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất phía Đông Sài Gòn, ngày 21/4/1975. Ảnh tư liệu Mất Dầu Giây, tuyến phòng thủ Xuân Lộc gần như không còn giá trị. Để bảo toàn lực lượng, địch quyết định rút khỏi Xuân Lộc. Để nghi binh cho cuộc rút lui này, ngày 20/4, địch sử dụng pháo binh bắn vào các trận địa của ta. 17 giờ cùng ngày, phát hiện thấy quân địch đi lại nhiều, phán đoán địch có thể rút khỏi thị xã, Bộ Tư lệnh Chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị tiến công vào các điểm phòng thủ của địch và tổ chức truy kích chúng rút chạy. Sư đoàn 341 tiến đánh vào Thị xã rồi phát triển theo Đường 2 ra Sở cao su Ông Quế, Sư đoàn 7 đánh chiếm Nam Tân Phong, chặn đường số 2. Sư đoàn 6 tổ chức chặn địch ở Sở cao su Ông Quế. Các tiểu đoàn địa phương chốt chặn và truy kích địch theo đường số 2. Do phát hiện và tổ chức truy kích chậm, mặt khác trời tối lại mưa to nên kết quả đạt được hạn chế. Ta chỉ diệt được bộ phận đi sau của địch, bắt được tên Tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh. Ngày 21/4/1975, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch Xuân Lộc kết thúc thắng lợi. Trong toàn chiến dịch, ta đánh thiệt hại Sư đoàn 18, Lữ đoàn Dù 1, tiêu diệt Chiến đoàn 52 (Sư đoàn 18), đánh thiệt hại Trung đoàn 5 và Lữ đoàn 3 Thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu 2.056 tên, bắt 2.785 tên, thu 48 ô tô, 1.499 súng các loại, phá hủy 42 xe tăng, xe thiết giáp, 16 ô tô (6). Thất bại ở Xuân Lộc báo hiệu sự sụp đổ không thể cứu vãn nổi của quân ngụy, đồng thời nó đặt dấu chấm hết, kết thúc sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tướng Uây oen phải thốt lên rằng: “Thế là hết, tình hình quân sự đã trở nên tuyệt vọng”. Còn Tổng thống Mỹ G.Pho, trong một bài diễn văn đã tuyên bố: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với người Mỹ” (7). Chiến dịch Xuân Lộc để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu về đánh giá tình hình địch - ta; về tạo và nắm thời cơ, về tổ chức lực lượng, về chỉ huy, điều hành chiến dịch… Nhưng sâu sắc nhất có lẽ là bài học về sự linh hoạt trong chuyển phương án tác chiến, từ đột phá vào chỗ mạnh của địch để giành thắng lợi, nhưng không thành công, lập tức chuyển sang kết hợp chặt chẽ giữa đột phá với bao vây, chia cắt, cô lập quân địch ở Xuân Lộc với quân địch ở Biên Hòa và Sài Gòn, phá vỡ thế phòng ngự liên hoàn của chúng, buộc chúng phải tháo chạy. Bài học này có thể vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Chỉ huy Trung đoàn 3 (Sư đoàn 304) bàn phương án tác chiến
trong Chiến dịch Xuân Lộc. Ảnh Internet Để thực hiện vụ này, ta sử dụng lực lượng Quân đoàn 4 (Sư đoàn 7, Sư đoàn 341), Sư đoàn Bộ binh 6 (Quân khu 7), 1 trung đoàn Tăng -Thiết giáp, 1 trung đoàn Pháo binh. Trong quá trình chiến đấu, Trung đoàn 95 B (Sư đoàn 325) và một đại đội xe tăng được điều động tăng cường. Chiến dịch do đồng chí Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, đồng chí Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Theo kế hoạch đã xác định, sáng mùng 9/4/1975, Chiến dịch bắt đầu. Ta nổ súng tiến công vào Xuân Lộc và Tiểu khu Long Khánh nhưng bị địch phản kích quyết liệt nên các mục tiêu đều không dứt điểm được. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 165 của Sư đoàn 7 đánh căn cứ Sư đoàn 18 ngụy, cách cổng 300m bị chặn lại, phải chuyển sang đánh chiếm hậu cứ Chiến đoàn 52 của địch. Hướng thứ yếu, Trung đoàn 266 của Sư đoàn 341 đánh Tiểu khu Long Khánh, chiếm được các Khu Thông tin và Khu Cảnh sát nhưng không chiếm được Dinh Tỉnh trưởng. Hướng phối hợp, Sư đoàn 6 (Quân khu 7) tập kích chiếm được 5 chốt ở Ngã ba Dầu Giây và làm chủ một đoạn quốc lộ 1A (đoạn Hưng Nghĩa - Đèo Mẹ bồng con). Ngày 10/4, ta tiếp tục đánh căn cứ Sư đoàn 18 ở Xuân Lộc, chiếm sân bay, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 43 của Sư đoàn 18. Trước nguy cơ bị thất thủ, địch tăng cường lực lượng quyết tâm bảo vệ Xuân Lộc. Ngày 12/4, địch đổ Lữ đoàn Dù 1 xuống ngã ba Tân Phong, tiếp đó điều Lữ đoàn 3 Thủy quân lục chiến, và Chiến đoàn 318 Biệt động đến Trảng Bom, Chiến đoàn 322 Biệt động đến Bàu Cá, Chiến đoàn 315 ở Bầu Hàn, Điểm cao 122, Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 từ Lai Khê sang Bầu Cá. Như vậy, địch đã tập trung vào khu vực này tới 50% lực lượng bộ binh, 60% lực lượng pháo binh và hầu hết xe tăng, xe thiết giáp của Quân đoàn 3 cùng lực lượng Tổng dự bị chiến lược (tương đương một sư đoàn). Không quân địch ở các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất được huy động trung bình 80 lần chiếc/ngày để trực tiếp chi viện cho các mũi phản kích. Chúng còn dùng cả bom CBU55 – loại bom có sức hủy diệt lớn, thế giới cấm sử dụng để ngăn chặn ta. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch ngày càng quyết liệt. Sau 5 ngày mở Chiến dịch, ta đã chiếm được một số mục tiêu, diệt một bộ phận sinh lực địch và giữ được một số địa bàn quan trọng, nhưng ta chưa diệt gọn được một tiểu đoàn nào của chúng. Địch phản kích quyết liệt, bộ đội thương vong nhiều. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định thay đổi cách đánh. Từ nhận định “toàn tuyến phòng thủ Sài Gòn - Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối với Biên Hòa”, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm Ngã ba Dầu Giây, cắt Đường 1, chặn đánh địch từ Trảng Bom lên, đánh chiếm Tân Phong, cắt đường 2 đi Bà Rịa. Theo phương án này, Quân đoàn 4 đã ra lệnh cho các đơn vị ngừng tiến công thị xã. Mỗi sư đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn kiềm chế, nghi binh dịch, còn lại lui ra phía sau củng cố, làm lực lượng cơ động. Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B (mới được tăng cường) tổ chức bao vây tiêu diệt Chiến đoàn 52 địch, thực hiện chốt chặn chiến dịch, diệt quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích. Trung đoàn 209 triển khai khu vực phía Bắc Chi khu Tân phong chặn đánh Lữ đoàn 1 Dù, không cho chúng vượt qua cầu Gia Liên để phối hợp với Chiến đoàn 43 trong thị xã. Trong khi ta chuyển thế trận, địch tưởng rằng chúng đã đẩy lùi được cuộc tiến công của ta nên rất chủ quan. Đột nhiên, rạng sáng ngày 15/ 4, pháo chiến dịch bắn dồn dập vào sân bay Biên Hòa, cùng lúc Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tiêu diệt Chiến đoàn 52, diệt gọn 1 tiểu đoàn Pháo, 1 chi đoàn Thiết giáp, giải phóng hoàn toàn Chi khu Gia Kiệm, Ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Đường 1 đoạn Xuân Lộc - Bầu Cá, đường 20 đoạn Túc Trưng - ngã ba Dầu Giây. Ngày 16/4, Sở Chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 3 ngụy ở Trảng Bom ra lệnh cho Lữ đoàn 3 Thiết giáp cùng Chiến đoàn 8 của Sư đoàn 5 và pháo ở Căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Bình Đại, Đại An tổ chức phản kích hòng chiếm lại khu vực Ngã ba Dầu Giây. Song quân địch gặp phải sự kháng cự quyết liệt của Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tại Hưng Nghĩa và điểm cao 122, bị thiệt hại 1 tiểu đoàn, bị bắt hơn 100 tên. Cùng thời gian này, tại Xuân Lộc, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 341 liên tục quần nhau với địch, đánh thiệt hại nặng Chiến đoàn 43 và Chiến đoàn 48 của Sư đoàn 18, diệt một bộ phận quân Dù.

Bộ đội Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất phía Đông Sài Gòn, ngày 21/4/1975. Ảnh tư liệu Mất Dầu Giây, tuyến phòng thủ Xuân Lộc gần như không còn giá trị. Để bảo toàn lực lượng, địch quyết định rút khỏi Xuân Lộc. Để nghi binh cho cuộc rút lui này, ngày 20/4, địch sử dụng pháo binh bắn vào các trận địa của ta. 17 giờ cùng ngày, phát hiện thấy quân địch đi lại nhiều, phán đoán địch có thể rút khỏi thị xã, Bộ Tư lệnh Chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị tiến công vào các điểm phòng thủ của địch và tổ chức truy kích chúng rút chạy. Sư đoàn 341 tiến đánh vào Thị xã rồi phát triển theo Đường 2 ra Sở cao su Ông Quế, Sư đoàn 7 đánh chiếm Nam Tân Phong, chặn đường số 2. Sư đoàn 6 tổ chức chặn địch ở Sở cao su Ông Quế. Các tiểu đoàn địa phương chốt chặn và truy kích địch theo đường số 2. Do phát hiện và tổ chức truy kích chậm, mặt khác trời tối lại mưa to nên kết quả đạt được hạn chế. Ta chỉ diệt được bộ phận đi sau của địch, bắt được tên Tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh. Ngày 21/4/1975, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch Xuân Lộc kết thúc thắng lợi. Trong toàn chiến dịch, ta đánh thiệt hại Sư đoàn 18, Lữ đoàn Dù 1, tiêu diệt Chiến đoàn 52 (Sư đoàn 18), đánh thiệt hại Trung đoàn 5 và Lữ đoàn 3 Thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu 2.056 tên, bắt 2.785 tên, thu 48 ô tô, 1.499 súng các loại, phá hủy 42 xe tăng, xe thiết giáp, 16 ô tô (6). Thất bại ở Xuân Lộc báo hiệu sự sụp đổ không thể cứu vãn nổi của quân ngụy, đồng thời nó đặt dấu chấm hết, kết thúc sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tướng Uây oen phải thốt lên rằng: “Thế là hết, tình hình quân sự đã trở nên tuyệt vọng”. Còn Tổng thống Mỹ G.Pho, trong một bài diễn văn đã tuyên bố: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với người Mỹ” (7). Chiến dịch Xuân Lộc để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu về đánh giá tình hình địch - ta; về tạo và nắm thời cơ, về tổ chức lực lượng, về chỉ huy, điều hành chiến dịch… Nhưng sâu sắc nhất có lẽ là bài học về sự linh hoạt trong chuyển phương án tác chiến, từ đột phá vào chỗ mạnh của địch để giành thắng lợi, nhưng không thành công, lập tức chuyển sang kết hợp chặt chẽ giữa đột phá với bao vây, chia cắt, cô lập quân địch ở Xuân Lộc với quân địch ở Biên Hòa và Sài Gòn, phá vỡ thế phòng ngự liên hoàn của chúng, buộc chúng phải tháo chạy. Bài học này có thể vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.



