Người có công giúp đỡ cách mạng

CHIẾN TRANH ĐÃ LÙI XA - KÍ ỨC CÒN Ở LẠI

Hưng Yên27/12/2025Phạm Phương Lan (Đoàn xã Bình Thanh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữa những nhịp sống hiện đại hối hả hôm nay, khi hoà bình đã trở thành điều hiển nhiên đối với thế hệ trẻ, có những con người lặng lẽ sống bên ta mà mang trong mình cả một thời đạn bom khốc liệt. Không ồn ào, không huân chương lấp lánh, không giấy chứng nhận ghi danh lịch sử, họ trở về đời thường như chưa từng đi qua chiến tranh. Ông ngoại tôi là một người như thế.

Những bức ảnh cũ đã ngả màu theo thời gian – nơi ông đứng bên chiếc xe tăng sắt thép, ánh mắt trầm lặng , gương mặt hằn dấu gian lao – đã mở ra trước mắt tôi một quá khứ không thể gọi tên bằng những dòng chữ trong sách vở hay bằng vài lời nói. Đó là quá khứ của chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 , nơi ông tôi – một người lính lái xe tăng – đã gửi trọn tuổi trẻ của mình giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Chiến tranh đã lùi xa hơn bốn mươi năm, ngưng dấu vết của nó vẫn còn in đậm trong từng nếp nhăn, từng cái lặng im của ông. Và chỉ đến khi lớn hơn, tôi mới thật sự hiểu rằng: có những hi sinh không cần được ghi công nhưng không bao giờ được phép quên.

Ông ngoại tôi tên là Phạm Văn Hưng, sinh ngày 10 tháng 1 năm 1958, trong một gia đình nông dân nghèo. Cuộc đời ông gắn liền với ruộng đồng, với những mùa nắng gió, với cái đói rét của một miền quê miền Bắc, những năm tháng khó khăn. Ngày ông sinh ra đất nước còn chưa yên tiếng súng, tuổi thơ ông lớn lên giữa thiếu thốn và chiến tranh. Chính hoàn cảnh ấy đã sớm rèn giũa ông sự cứng cỏi , bền bỉ và tinh thần chịu đựng đến lặng lẽ

Gia đình đông con, cuộc sống chủ yếu dựa vào sức lao động tay chân. Ông chưa từng mơ ước điều gì lớn lao cho riêng mình. Với ông, sống là làm tròn bổn phận: với gia đình, với quê hương, và khi Tổ quốc cần, với đất nước. Có lẽ vì thế mà khi đến tuổi nhập ngũ ông không hề do dự mà đi luôn.
Tháng 4 năm 1978 khi ông vừa tròn 20 tuổi, rời xa gia đình, bỏ lại sau lưng cha mẹ, ruộng vườn và tuổi trẻ còn đang dang dở.Ngày ông lên đường, gia đình không có gì ngoài vài bộ quần áo bạc màu và những lời dặn dò nghẹn ngào.Không ai biết ngày trở về là khi nào, hay liệu có còn ngày trở về không. Ông đi nhập ngũ ở xã Lê Lợi tại Tiểu đoàn 3. Đến tháng 5 ông chuyển công tác ở Thạch Thất – Hà Tây và làm tại Đại đội 9 Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 102 Sư đoàn 308. Trong khi nhập ngũ thì từ tháng 8 năm 1978 đến tháng 1 năm 1979 ông học lái xe tăng tại Quân đoàn 1. Khi đó ông thuộc cấp bậc Binh nhất, chức vụ Chiến sĩ. Và đến đầu tháng 2 năm 1979 , khi chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ, ông là một trong những người lính được điều động ra tuyến đầu tại Đình Lập- Lạng Sơn. Trong quân ngũ, ông được giao nhiệm vụ lái xe tăng- một vị trí vừa đòi hỏi kĩ thuật , vừa phải đối diện trực tiếp với bom đạn và cái chết. Lái xe tăng , một nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm, bởi xe tăng luôn là mục tiêu hàng đầu của pháo binh và hoả lực đối phương.

Chiến tranh biên giới phía Bắc bổ ra vào tháng 2 năm 1979 , khi quân Trung Quốc đồng loạt tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai... Đây không phải là một cuộc chiến kéo dài nhiều năm nhưng lại vô cùng ác liệt và tàn khốc. Chỉ trong thời gian ngắn, bom đạn đã cày xới làng mạc, núi rừng bị tàn phá, hàng nghì người dân và chiến sĩ đã ngã xuống.

Đó là cuộc chiến diễn ra trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Vũ khí không đồng bộ, hậu cần hạn chế, địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt. Những người lính như ông tôi phải chiến đấu giữa núi rừng heo hút nơi cái lạnh cắt da cắt thịt, sương mù dày đặc và cái chết luôn rình rập sau mỗi khúc cua, mỗi triền núi. Là một người lái xe tăng, ông ngoại tôi không chỉ đối diện với nguy hiểm từ bom pháo của kẻ thù mà còn phải làm chủ một cỗ máy thép nặng hàng chục tấn giữa địa hình núi đá hiểm trở. Xe tăng không chỉ là vũ khí, mà đôi khi cũng là “quan tài thép” nếu trúng đạn. Mỗi lần tiến lên là mỗi lần đánh cược sinh mạng. Trong suy nghĩ của mỗi người lính như ông tôi chỉ cần biết là mình phải chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mặc dù đã biết có thể là nay sống mai chết.
Trong không gian chật hẹp của buồng lái, tiếng động cơ gầm rú hoà lẫn tiếng pháo nổ rung chuyển cả núi rừng. Khói thuốc súng, mùi dầu máy, mồ hôi và cả mùi máu quyện vào nhau tạo thành một thứ không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.Trong buồng lái chật hẹp,nóng bức, ông tôi luôn phải tỉnh táo giữa những làn bom mưa bão đạn.Có những lúc xe bị trúng mảnh pháo, rung lắc dữ dội, đất đá trút xuống như muốn chôn vùi tất cả.Nhưng ông và đồng đội vẫn siết chặt tay lái, tiếp tục tiến lên,bởi phía sau họ là Tổ quốc, là nhân dân,là những người đang chờ được bảo vệ. Ông tôi đã chứng kiến biết bao đồng đội hi sinh ngay trước mắt mình. Có người vừa mới trò chuyện, chia nhau từng ngụm nước, từng mẫu lương khô, chỉ sau một trận pháo đã vĩnh viễn không còn. Những khoảnh khắc ấy khắc sâu vào kí ức ông như những vết dao cứa vào tâm hồn- không chảy máu nhưng đau đến tận cùng.

Chiến tranh không chỉ giết chết con người bằng bom đạn, mà còn bào mòn tinh thần bằng những nỗi ám ảnh thường trực. Đêm xuống, giữa rừng sâu lạnh buốt, người lính không chỉ sợ kẻ thù trước mặt, mà còn sợ cả sự im lặng rợn người bao trùm xung quanh.Những ngày thiếu ăn , thiếu nước,những đêm không ngủ vì pháo kích liên hồi đã khiến ông tôi kiệt sức.Nhưng ông chưa bao giờ cho phép mình gục ngã. Bởi ông hiểu: nếu mình ngã xuống đồng đội sẽ phải gánh thêm một phần hiểm nguy. Vì thế, họ vẫn phải tiến lên, bởi phía sau là biên cương Tổ quốc, là nhân dân, là gia đình. Nhờ những cố gắng, kiên trì, không để đất nước nguy hiểm nên nước Việt Nam ta đã giành được chiến thắng một cách xứng đáng nhất.
Sau chiến tranh, ông trở về đơn vị cũ để tiếp tục nhập ngũ. Đến tháng 5 năm 1982 ông rời đơn vị trở về quê hương, trở lại làm một người nông dân bình thường. Ông không có huân chương, không giấy chứng nhận, không một lần nhắc đến công lao của mình. Ông cất những kỉ niệm chiến tranh vào im lặng, như thể đó là điều hiển nhiên mà một người đàn ông phải đi qua. Do sơ suất hay vì một vài lý do cá nhần,ông không may làm mất giấy tờ quan trọng, khiến ông không được hưởng chế độ của một cựu chiến binh như nhiều người khác. Từ đó, trong lòng ông luôn mang trong mình một nỗi buồn âm ỉ.Không phải vì thiệt thòi vật chất, mà cảm giác bị lãng quên.Nhưng ông chưa bao giờ than vãn hay kêu ca với con cháu. Ông chọn cách âm thầm chịu đựng,lặng lẽ sống tiếp cuộc đời mình như những người nông dân bình thường.

Những năm sau này, dù cuộc sống có vất vả đến đâu- làm ruộng nắng mưa, tuổi già bệnh tật, cuộc sống thiếu thốn nhưng ông chưa từng than vãn hay kêu ca một lời với con cháu. Chỉ đến bây giờ, khi tôi đã lớn hơn để suy nghĩ sâu xa hơn, tôi mới hiểu rằng: với ông, những nhọc nhằn của đời thường chẳng thấm vào đâu so với sự khốc liệt của chiến trường, nơi ranh giới giữa sự sống với cái chết mong manh đến tàn nhẫn, nơi bao đồng đội của ông đã vĩnh viễn không thể trở về.Khi nhận ra được điều này tôi mới thấy ông phi thường và dũng cảm biết nhường nào.Khiến tôi càng thêm có cái nhìn khác về ông- coi ông như là một siêu anh hùng.
Nhìn ông ngoại hôm nay – mái tóc bạc , đôi tay chai sần, bước chân chậm chạp- tôi chợt nhận ra một sự thật giản dị mà sâu sắc: hoà bình không phải là điều tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả sự lặng thầm của những con người như ông tôi. Ông không cần được tôn vinh, nhưng chính sự im lặng của ông lại khiến tôi kính trọng hơn bất kỳ tấm huân chương nào. Ông đại diện cho thế hệ đã quen việc hi sinh mà không đòi hỏi ghi công, đã quen với việc gánh chịu đau thương mà không lên tiếng. Lớn lên trong thời bình, không còn tiếng súng tiếng pháo nổ, bây giờ những thứ ấy chỉ còn nằm trên sách vở, tôi từng vô tư coi cuộc sống hoà bình là điều hiển nhiên. Nhưng khi hiểu về cuộc đời ông, về chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979, tôi mới thấm thía rằng: hoà bình chưa bao giờ là miễn phí. Nó được đánh đổi bằng máu, nước mắt và sự hi sinh thầm lặng của biết bao con người như ông ngoại tôi. Ông không kể công, không nhắc lại chiến trang để đòi hỏi sự biết ơn. Ông tôi một con người kiệm lời, ít nói lại càng khiến tôi càng thêm kính trọng. Ông dạy tôi bài học lớn nhất không phải bằng lời nói, mà bằng hành động bằng cuộc đời mình: sống trách nhiệm, biết hi sinh và trân trọng những gì đang.

Từ câu chuyện của ông tôi hiểu rằng: chiến tranh không chỉ được đo bằng chiến thắng hay thất bại, mà còn bằng những số phận con người âm thầm hi sinh không đòi hỏi ghi công. Và hoà bình hôm nay- thứ mà thế hệ chúng tôi đang được hưởng- đã phải trả giá bằng máu, bằng tuổi trẻ, bằng cả những nỗi đau không lời.

Ông tôi không phải là anh hùng được ghi danh trong sách sử, nhưng với tôi, ông là một anh hùng thầm lặng của thời đại.Một người đã đi qua chiến tranh,trở về đời thường với tất cả những mất mát.Ông tôi- một người đã đi qua chiến tranh, trở về đời thường với tất cả những mất mát,nhưng vẫn giữ trọn nhân cách cao đẹp của người lính cụ Hồ.
Viết về ông, tôi không chỉ kể lại một câu chuyện gia đình, mà còn là lời tri ân gửi tới những con người đã từng lặng lẽ đứng giữa ranh giới sống- chết để bảo vệ đất nước.Và tôi muốn gửi một thông điệp đến thế hệ trẻ hôm này là:”trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay phải sống sao cho xứng đáng với những hi sinh ấy,để hoà bình không chỉ là một khái niệm, mà là một giá trị được giữ gìn bằng tất cả lòng biết ơn”. Qua đây em muốn gửi lời cảm ơn đến những người lính đã hi sinh bảo vệ Tổ quốc rằng;” Thế hệ măng non - tương lai của đất nước như chúng em vô vùng cảm ơn, biết ơn sâu sắc và vô cùng nể phục về những công lao mà những người lính đã hi sinh bảo vệ đất nước , cho chúng em một đất nước hào bình ,tươi đẹp như ngầy hôm nay”. Và tôi cũng muốn đôi lời muốn nói với ông trực tiếp nhưng chưa thể thực hiện được là:” Ông ngoại ơi! Ông mãi là người hùng trong trái tim con. Cảm ơn ông , con yêu ông nhiều lắm!”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
CHIẾN TRANH ĐÃ LÙI XA - KÍ ỨC CÒN Ở LẠI | Câu chuyện thời hoa lửa