Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chiến tranh Đông Dương

Đây là câu chuyện về Lê Văn Dọn – một nhà lãnh đạo quân sự tiêu biểu, trưởng thành từ phong trào cách mạng ở Gia Định. Tham gia cách mạng từ năm 1945, ông nhanh chóng trở thành chỉ huy trong kháng chiến chống Pháp, góp phần xây dựng Địa đạo Phú Thọ Hòa – công trình quân sự ngầm đầu tiên ở Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng, trực tiếp xây dựng lực lượng vũ trang, chỉ huy chiến đấu và tham gia lãnh đạo ở chiến trường Sài Gòn – Gia Định. Sau chiến tranh, ông tiếp

Gia Lai22/04/2026Phạm Xuân Trường (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã An Lương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tám Lê Thanh
Tám Lê Thanh

Tám Lê Thanh vào năm 1987

Ban lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Đại diện lâm thời

Nhiệm kỳ
15 tháng 12 năm 1961 – 1962

Phó Tư Lệnh Phân khu 1[a]

Nhiệm kỳ
Tháng 10 năm 1967 – 1970

Chính ủy Phân khu 1

Nhiệm kỳ
1970–1971

Phó Chính ủy Quân khu Sài Gòn – Gia Định

Nhiệm kỳ
Tháng 4 năm 1972 – Tháng 12 năm 1972

Chính ủy Quân khu Sài Gòn – Gia Định

Nhiệm kỳ
Tháng 1 năm 1973 – Tháng 8 năm 1974

Phó Tư lệnh Công an nhân dân Vũ trang (Bộ Nội vụ)

Nhiệm kỳ
1975–1979

Phó Tư lệnh Quân khu 7

Nhiệm kỳ
1980–1987

Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng

Nhiệm kỳ
1987–1995

Thông tin cá nhân

Sinh

Lê Văn Dọn


10 tháng 7 năm 1925
Phú Thọ Hòa, Gò Vấp, Gia Định, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương

Mất

11 tháng 3 năm 2006 (80 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Nơi an nghỉ

Phú Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh[2]

Quốc tịch

Việt Nam

Đảng chính trị

Đảng Cộng sản Việt Nam

Dân tộc

Kinh

Chữ ký

Phục vụ trong quân đội

Thuộc

Quân đội nhân dân Việt Nam Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam (1961–1975)

Năm tại ngũ

1945–1995

Cấp bậc

Trung tướng

Chỉ huy

Quân đội nhân dân Việt Nam

Tham chiến

Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam

Tặng thưởng

Danh sách đầy đủ

Lê Văn Dọn (10 tháng 7 năm 1925 – 11 tháng 3 năm 2006), bí danh Tám Lê Thanh, Lê Thanh hay Tám Dọn,[3][4][5] là một nhà lãnh đạo quân sự mang quân hàm Trung tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, từng tham gia hai cuộc chiến tranh với Pháp và Hoa Kỳ. Xuyên suốt sự nghiệp, ông nắm giữ các chức vụ quan trọng như Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam, Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân khu 1, Chính ủy Quân khu Sài Gòn – Gia Định, Ủy viên ban an ninh Trung ương Cục miền Nam kiêm Chỉ huy Trưởng Lực lượng an ninh vũ trang Miền, Phó tư lệnh Công an nhân dân Vũ trang, Phó Tư lệnh Quân khu 7 và Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng. Ngoài ra, ông cũng từng là thành viên nằm trong ban lãnh đạo lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam – một tổ chức chính trị chủ chốt trong giai đoạn xung đột tại khu vực này ra đời vào năm 1960.

Xuất thân trong một gia đình nông dân tại xã Phú Thọ Hòa thuộc tỉnh Gia Định, Lê Thanh gia nhập Việt Minh vào năm 1945 và nhanh chóng tham gia lãnh đạo phong trào giành chính quyền từ tay Đế quốc Nhật Bản tại huyện Hóc Môn – Gò Vấp. Hai năm sau, ông là một những nhân vật đặt nền móng xây dựng nên công trình quân sự dưới lòng đất đầu tiên tại khu vực Nam Bộ để làm nơi trú ẩn cho đội quân kháng chiến. Đến thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, ông tiếp tục là một trong những người đầu tiên ở miền Nam đóng góp trực tiếp vào quá trình hình thành địa bàn hoạt động của tổ chức cộng sản, từ nhiệm vụ thành lập lực lượng quân sự cho đến việc kiến tạo nên khu căn cứ Trung ương Cục.[6] Năm 1960, trận tập kích vào doanh trại Nguyễn Thái Học do Lê Thanh nằm trong ban chỉ huy và trực tiếp tham chiến đã gây sốc cho chính quyền Ngô Đình Diệm cùng các cố vấn quân sự Hoa Kỳ, thúc đẩy sự ra đời bản Tuyên ngôn Caravelle, đồng thời khiến Đại sứ quán Mỹ phải đưa ra đề nghị nên huấn luyện sư đoàn Quân lực Việt Nam Cộng hòa về tác chiến du kích nhằm đối phó lại sự gia tăng hoạt động của các lực lượng vũ trang đối lập. Truyền thông Việt Nam nhận định đây là cột mốc mở đầu cho phong trào Đồng Khởi nhằm chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn.

Cuối năm 1969, Lê Thanh là vị chỉ huy quân đội duy nhất sống sót trong một trận giao tranh với lính Hải quân Hoa Kỳ trên sông Vàm Cỏ Đông, trong khi cấp trên của ông là nhà tình báo Hoàng Minh Đạo đã thiệt mạng. Sau khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai kết thúc, với vị thế là người đại diện cho Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng khu vực phía Nam, ông tiếp tục thành lập lực lượng trung đoàn cơ động nhằm bảo vệ vùng biên giới, triển khai một loạt hệ thống đồn biên phòng Nam Bộ, đồng thời tổ chức các đoàn quân tiến sang Campuchia truy quét quân đội Pol Pot trong chiến dịch biên giới Tây Nam. Lê Thanh nghỉ hưu vào năm 1995 và qua đời 11 năm sau đó, ông đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng nhiều huân chương, trong đó có danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký quyết định phê duyệt vào năm 2015.

Thân thế và khởi đầu cách mạng

Lê Văn Dọn sinh ngày 10 tháng 7 năm 1925 tại xã Phú Thọ Hòa, tổng Dương Hòa Thượng, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định, xứ thuộc địa Nam Kỳ, tính đến cuối năm 2024 là phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.[7][8]

Tháng 5 năm 1945, ông gia nhập đoàn Thanh niên Cứu quốc để chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa.[8] Ba tháng sau, khi phong trào đấu tranh giành chính quyền lên đến cao trào, tại huyện Gò Vấp và tỉnh Gia Định, quân đoàn Thanh niên Tiền phong phối hợp với lực lượng khởi nghĩa do Lê Thanh và Lâm Quốc Đăng (Tư Thược) lãnh đạo đã tiến hành đấu tranh vũ trang chống lại Đế quốc Nhật Bản, sau đó thành lập nên Ủy ban hành chính xã Phú Thọ Hòa lấy Đình Phú Thạnh làm trụ sở chính.[9] Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.[8]

Khoảng thời gian từ năm 1940 đến 1945, Lê Thanh và Lâm Quốc Đăng đã dùng chính điện của Đình Phú Thạnh làm căn cứ hoạt động, xây dựng lực lượng, hỗ trợ quá trình đấu tranh tại địa phương.[9] Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, ông cùng với các cấp ủy xã Phú Thọ Hòa tiếp tục sử dụng ngôi đình này cùng với Đình Tân Hòa Tây làm cơ sở để bàn thảo kế hoạch,[b] vận động quần chúng đóng góp vật lực cho cách mạng và tham gia kháng chiến.[9][12]

Chiến tranh Đông DươngXem thêm: Địa đạo Phú Thọ Hòa

Tháng 9 năm 1945, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, Lê Thanh gia nhập Vệ quốc đoàn và tham gia chiến đấu tại Liên quận Gò Vấp – Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa.[8] Đến đầu tháng 10, sau khi củng cố lực lượng, Pháp bắt đầu mở cuộc tấn công nhằm triệt phá vòng vây và giành quyền kiểm soát nhiều phủ lỵ ở tỉnh Gia Định. Trước tình hình này, lực lượng kháng chiến đã tổ chức bốn mặt trận nhằm ngăn chặn đà tiến công của đối phương vây quanh vùng đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn.[13] Lê Thanh nằm trong bộ phận chỉ huy đội vũ trang chiến đấu tại mặt trận số hai, phụ trách khu vực phía Tây Bắc án ngữ vị trí Bà Quẹo, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Nhì.[3][13] Xuyên suốt giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1947, trên cương vị Đại đội trưởng Chi đội 12 thuộc Khu 7 nằm dưới sự chỉ huy của Chi đội trưởng Tô Ký, Lê Thanh tham gia phối hợp tác chiến tại các căn cứ Hố Bò, Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây (Khu 5 Hóc Môn) và Long Phước Thôn, phía đông Thủ Đức. Trong khoảng thời gian này, ông đã chỉ huy đơn vị đánh bại một trận càn của quân Pháp tại Gia Hẹ – Xóm Mới (thuộc xã Trung Lập, Khu 5 Hóc Môn).[8]

Lê Thanh (trái) và Nguyễn Văn Linh (phải) về thăm lại địa đạo Phú Thọ Hòa vào năm 1984.

Giữa năm 1947, nhận thấy địa hình khu vực có lợi thế chiến lược với vị trí cao và cây cối rậm rạp, Lê Thanh cùng với Lâm Quốc Đăng đã chỉ đạo Ủy ban kháng chiến hành chính xã Phú Thọ Hòa (quận Gò Vấp) tiến hành xây dựng khu căn cứ quân sự dưới lòng đất, tạo điều kiện cho các đơn vị quân đội về bám trụ chiến đấu.[14][15] Kỹ thuật đào địa đạo được thực hiện theo phương thức tương tự như xây dựng từng toa xe lửa đứt đoạn, trong đó hai nhóm đào từ hai điểm và gặp nhau tại vị trí trung tâm.[16] Đến cuối tháng 12, Lê Thanh và Tư Thượt đã sử dụng hàng binh Pháp trong một cuộc tấn công vào đồn đối phương cách địa đạo khoảng một cây số. Chiến thuật này tiếp tục được áp dụng và mang về thắng lợi trong trận đánh tại đồn Phạm Văn Tụng vào đầu năm 1948.[15] Trước những tổn thất liên tiếp trong khu vực, Pháp tiến hành gia tăng các biện pháp truy bắt hai vị chỉ huy. Cuối năm 1948, Chi đội 12 đặt dưới sự chỉ huy của Lâm Quốc Đăng và cấp phó là Lê Thanh đã giao tranh căng thẳng với lính Pháp tại vị trí có địa đạo xuyên qua. Tuy hầm trú ẩn bị phát hiện sau đó nhưng đoàn quân đã kịp thời phối hợp với lực lượng du kích địa phương phản công, đẩy lùi đối phương và bảo vệ phần còn lại của hệ thống ngầm.[15] Đến năm 1996, địa đạo Phú Thọ Hòa đã được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia của Thành phố Hồ Chí Minh,[17] đây chính là công trình quân sự dưới mặt đất đầu tiên xuất hiện tại khu vực Nam Bộ.[18][19][20]

Năm 1952, Pháp mở các cuộc tấn công vào huyện Gò Vấp gây tổn thất nặng nề cho phong trào kháng chiến trong khu vực. Trước tình hình đó, Lê Thanh được bổ nhiệm làm Huyện đội phó Huyện đội Gò Vấp, tập trung củng cố binh lực tại địa phương và duy trì hoạt động du kích.[8] Đến cuối năm, ông được Lê Đức Anh lựa chọn tham gia đoàn cán bộ do Lê Duẩn chỉ đạo tổ chức, lên đường ra Việt Bắc tiếp thu kinh nghiệm chiến đấu và báo cáo với Bộ Tổng Tham mưu về tình hình chiến sự tại Nam Bộ.[21] Trên chuyến hành trình kéo dài năm tháng vượt dãy Trường Sơn, mỗi thành viên trong đoàn phải cõng 20 kg gạo để ăn dọc đường, không ít lần gặp nguy hiểm vì bom đạn và dịch sốt rét kéo dài.[22][23] Khi đến vùng căn cứ địa miền Bắc, Lê Đức Anh thay mặt đoàn báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh nghiệm triển khai chiến thuật đặc công được ứng dụng trong Chiến dịch Bến Cát, đây cũng là lần đầu tiên Lê Thanh gặp gỡ Hồ Chủ tịch.[24] Ông cùng với Trần Công An tiếp tục hộ tống Lê Đức Anh trên tuyến đường trở về, mang theo tài liệu mật, vàng và tiền Đông Dương nhằm hỗ trợ lực lượng kháng chiến tại miền Nam. Nhóm sau đó dừng chân đón Tết Nguyên Đán tại Quảng Ngãi.[c] Khi đến Bồng Sơn, Bình Định, họ buộc phải tạm dừng 15 ngày do các cuộc càn quét của đối phương và phải mất thêm 9 ngày nữa để đến Chiến khu Đ.[24][25] Thời điểm về được căn cứ Dương Minh Châu vào cuối năm 1953 thì cũng là lúc đang diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ.[23] Lê Thanh phụ trách công tác giao liên giữa các tỉnh miền Đông Nam Bộ trong khoảng thời gian này cho đến hết năm 1954.[

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn