Chiến trường ai khóc chia phôi Khải hoàn ai nhớ đến người hôm qua.”
“Chiến trường ai khóc chia phôi Khải hoàn ai nhớ đến người hôm qua.” Hai câu thơ khắc khoải ấy đã đi vào ký ức của bao thế hệ yêu thơ như một huyền thoại. Đó không chỉ là sự đúc kết về cái giá khốc liệt của chiến tranh – nơi cái ch.ết giữa chốn đạn bo.m không kịp cho đồng đội dừng lại xót thương, và niềm vui ngày khải hoàn dễ làm người ta vô tình quên đi những người ngã xuống ở "ngày hôm qua" – mà còn là lời tự sự đầy kiêu bạc của chính thi sĩ. Hai câu thơ đắt giá ấy gắn liền với tên tuổi Hồ Thấu (1918 - 1949) – một chân dung trí thức cách mạng độc đáo và đầy trăn trở của vùng đất Quảng. Sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước tại Duy Xuyên (ông nội tham gia Cần Vương, anh trai là nhà cách mạng Hồ Nghinh và em ruột là nhà ngoại giao Hoàng Bích Sơn - Hồ Liên), từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường Quốc học Quy Nhơn rồi Quốc học Huế, Hồ Thấu đã sớm tiếp thu các trào lưu dân chủ sôi nổi của thanh niên thời bấy giờ. Không chọn con đường an thân, chí hướng của ông bắt đầu bằng hành động thực tiễn: "Khai dân trí" để giải phóng dân tộc. Năm 1941, sau khi đỗ Tú tài, ông cùng anh trai Hồ Nghinh vận động mở trường tư thục Tân Tân tại quê nhà. Mái trường Tân Tân không chỉ dạy chữ mà còn gieo mầm tư tưởng tiến bộ, quy tụ những thầy giáo trẻ yêu nước. Chính tại đây, Hồ Thấu vừa dạy học, vừa sáng tác thơ ca tuyên truyền, gieo vào lòng thế hệ trẻ ngọn lửa cách mạng. Mùa hè lịch sử năm 1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền và được cử làm Ủy viên Ủy ban Cách mạng lâm thời phủ Duy Xuyên. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, với năng lực xuất sắc và ngọn lửa nhiệt huyết, ông lăn lộn với công tác đào tạo, bồi dưỡng văn hóa cho đội ngũ cán bộ kháng chiến, đồng thời sáng tác văn thơ, kịch bản phục vụ cuộc chiến đấu của nhân dân. Thế nhưng, giữa lúc tài năng đang chín rực, căn bệnh lao phổi nan y đã quật ngã thể xác ông. Những ngày tháng cuối đời, Hồ Thấu phải sống cách ly một mình trong ngôi miếu cổ quạnh quẽ giữa mông mênh gi
“Chiến trường ai khóc chia phôi
Khải hoàn ai nhớ đến người hôm qua.”
Hai câu thơ khắc khoải ấy đã đi vào ký ức của bao thế hệ yêu thơ như một huyền thoại. Đó không chỉ là sự đúc kết về cái giá khốc liệt của chiến tranh – nơi cái ch.ết giữa chốn đạn bo.m không kịp cho đồng đội dừng lại xót thương, và niềm vui ngày khải hoàn dễ làm người ta vô tình quên đi những người ngã xuống ở "ngày hôm qua" – mà còn là lời tự sự đầy kiêu bạc của chính thi sĩ. Hai câu thơ đắt giá ấy gắn liền với tên tuổi Hồ Thấu (1918 - 1949) – một chân dung trí thức cách mạng độc đáo và đầy trăn trở của vùng đất Quảng.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước tại Duy Xuyên (ông nội tham gia Cần Vương, anh trai là nhà cách mạng Hồ Nghinh và em ruột là nhà ngoại giao Hoàng Bích Sơn - Hồ Liên), từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường Quốc học Quy Nhơn rồi Quốc học Huế, Hồ Thấu đã sớm tiếp thu các trào lưu dân chủ sôi nổi của thanh niên thời bấy giờ.
Không chọn con đường an thân, chí hướng của ông bắt đầu bằng hành động thực tiễn: "Khai dân trí" để giải phóng dân tộc. Năm 1941, sau khi đỗ Tú tài, ông cùng anh trai Hồ Nghinh vận động mở trường tư thục Tân Tân tại quê nhà. Mái trường Tân Tân không chỉ dạy chữ mà còn gieo mầm tư tưởng tiến bộ, quy tụ những thầy giáo trẻ yêu nước. Chính tại đây, Hồ Thấu vừa dạy học, vừa sáng tác thơ ca tuyên truyền, gieo vào lòng thế hệ trẻ ngọn lửa cách mạng.
Mùa hè lịch sử năm 1945, ông tham gia lãnh đạo giành chính quyền và được cử làm Ủy viên Ủy ban Cách mạng lâm thời phủ Duy Xuyên. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, với năng lực xuất sắc và ngọn lửa nhiệt huyết, ông lăn lộn với công tác đào tạo, bồi dưỡng văn hóa cho đội ngũ cán bộ kháng chiến, đồng thời sáng tác văn thơ, kịch bản phục vụ cuộc chiến đấu của nhân dân.
Thế nhưng, giữa lúc tài năng đang chín rực, căn bệnh lao phổi nan y đã quật ngã thể xác ông. Những ngày tháng cuối đời, Hồ Thấu phải sống cách ly một mình trong ngôi miếu cổ quạnh quẽ giữa mông mênh gió cát Tam Thanh. Đứng trước bờ vực t.ử sinh do bệnh tật và sự cô đơn vây bủa, người chiến sĩ ấy vẫn giữ trọn khí tiết kiêu bạc, yêu đời và chan chứa chí lớn gửi gắm lại cho đồng đội:
“Mắt say hớp mảnh trời xanh
Miệng say uống ngợp gió lành muôn phương”
và:
“Chiều lên theo nẻo đẹp thơ
Ra đi chỉ tiếc cuộc cờ thiếu tay”
Chính trong không gian khắc nghiệt ấy, bài thơ Gởi Kỳ – một di chúc tinh thần bất t.ử – đã ra đời trước khi ông qua đời vì bệnh nặng vào tháng 12 năm 1949. Thơ Hồ Thấu sáng tác khi còn sống không nhiều, không kịp in thành tập mà chủ yếu chuyền tay giữa những người đồng chí. Phải mãi về sau, những vần thơ ấy mới được sưu tầm và trân trọng in lại trong các tập sách tưởng niệm ("Hồ Thấu - Nhà trí thức cách mạng") cũng như các tuyển tập lớn như "Trăm năm thơ Đất Quảng". Đúng như Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh từng nhận định, chỉ riêng bài thơ Gởi Kỳ đã đủ dựng nên một đỉnh cao, đưa tên tuổi Hồ Thấu sống mãi với thời gian.
Nhìn lại cuộc đời của ông, chúng ta không khỏi dâng lên niềm xúc động và lòng biết ơn sâu sắc. Ông đã để lại cho thế hệ hôm nay bài học lớn về chí khí kiên cường, lòng tận hiến đến hơi thở cuối cùng và một nhân cách sống cao đẹp. Dù phải chống chọi với bệnh nan y ở chốn cô quạnh, người trí thức ấy vẫn giữ cho mình một tâm hồn trong trẻo, một niềm tin mãnh liệt vào ngày mai tươi sáng của dân tộc.
Tri ân những đóng góp thầm lặng của người thi sĩ - chiến sĩ Hồ Thấu, chúng ta càng thêm quý trọng những giá trị lịch sử và văn hóa mà thế hệ đi trước đã đánh đổi bằng cả m.áu và nước mắt để kiên cường gầy dựng.



