Bài viết

Chiến trường mới

Ninh Bình27/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện về cuộc đời và cách mạng

Đồng chí Nguyễn Hữu An, sinh ngày 9/10/1926, tại xã Trường Yên, huyện Gia Viễn (nay thuộc thành phố Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Tháng 8 năm 1945, đồng chí Nguyễn Hữu An tình nguyện tham gia Giải phóng quân ở Yên Bái, được cử làm Tiểu đội trưởng. Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí Nguyễn Hữu An được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trưởng thành từ một chiến sĩ đến Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu An đã tham gia và chỉ huy chiến đấu nhiều trận đánh quan trọng, góp phần làm nên chiến thắng: Bông Lau-Lũng Phầy, Đông Khê, Thất Khê, Mộc Châu, Bình Liêu... Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí Nguyễn Hữu An mới 28 tuổi, chỉ huy Trung đoàn 174 tiến công tiêu diệt cứ điểm đồi Al, mở toang “cánh cửa thép”, để quân ta phát triển nhanh vào trung tâm Mường Thanh bắt tướng Đờ Cátxtơri, kết thúc thắng lợi chiến dịch.

Năm 1955, đồng chí Nguyễn Hữu An được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Sư đoàn 316. Đồng chí đã cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy sư đoàn tiến hành chấn chỉnh, xây dựng lực lượng, ổn định tổ chức biên chế, trang bị, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đất nước. Tháng 6/1957, đồng chí được cử làm Tham mưu phó Quân khu Tây Bắc. Trên cương vị mới, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào việc xây dựng lực lượng vũ trang từ cấp quân khu đến các tỉnh, huyện góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Trước tình hình Mỹ leo thang chiến tranh, tháng 9/1964, đồng chí Nguyễn Hữu An vào Quân khu 4 nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 325, rồi gấp rút chấn chỉnh lực lượng, bổ sung trang bị vào miền Nam chiến đấu. Vào đến Tây Nguyên, ông được bổ sung vào Đảng ủy mặt trận, đảm nhiệm trọng trách Phó Tư lệnh Mặt trận B3. Tháng 11/1965, ông trực tiếp chỉ huy trận Ia Đrăng tiêu diệt hoàn toàn 1 tiểu đoàn và làm thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn kỵ binh Mỹ - làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), đồng chí Nguyễn Hữu An được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 giao nhiệm vụ làm Tham mưu trưởng Mặt trận B3. Tháng 8/1968, theo lệnh triệu tập của Bộ Tổng Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Hữu An cùng các đồng chí Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp ra miền Bắc để báo cáo tình hình chiến trường. Tháng 10/1968, đồng chí Nguyễn Hữu An được bổ nhiệm chức Tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn. Nhưng chỉ hơn hai tháng sau (1/1969), do yêu cầu tăng cường cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm tác chiến trên chiến trường cho các đơn vị chủ lực, đồng chí được điều về làm Tư lệnh Sư đoàn 308. Đầu tháng 2/1971, ngay khi địch vừa triển khai mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 ra đường 9 - Nam Lào Tư lệnh Nguyễn Hữu An lập tức chỉ huy sư đoàn hành quân bằng phương tiện cơ giới của Đoàn 559 hành quân cấp tốc vào chiến trường, cùng toàn mặt trận đập tan cuộc hành quân của địch.

Khi cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở Quảng Trị diễn ra giằng co, quyết liệt, tháng 7/1972, đồng chí được điều vào nhằm giữ vững vùng giải phóng và thành cổ Quảng Trị. Từ giữa tháng 9/1972, ta chủ động rút khỏi Thành cổ Quảng Trị và vùng phụ cận. Đồng chí Nguyễn Hữu An được điều về làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Trị - Thiên, chỉ huy bộ đội chặn đứng các cuộc hành quân của địch như: Lam Sơn 72A, Sóng Thần 9, Sóng Thần 36, Sóng Thần 45 và Sóng Thần 18. Tháng 5/1974, đồng chí Nguyễn Hữu An được cử đi học ở Liên Xô. Đầu năm 1975, trở về nước đồng chí Nguyễn Hữu An được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 2. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, dưới sự chỉ huy của ông, Quân đoàn 2 lần lượt giải phóng Huế, đập tan căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, sau đó đưa bộ đội hành quân “thần tốc” gần 1.000km để tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Từ năm 1977-1981, ông tiếp tục chỉ huy Quân đoàn 2 tham gia bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc. Sau đó, ông tiếp tục giữ các chức vụ quan trọng trong Quân đội như: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, quyền Tư lệnh Quân khu 2 (1984-1987); Giám đốc Học viện Lục quân (1988-1991); Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao (tháng 12/1994 là Học viện Quốc phòng) (1991-1995).

Ghi nhận những công lao to lớn của đồng chí, Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: 1 Huân chương Độc lập hạng Nhất; 3 Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba); 3 Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn