CHIỀU 30 TếT NĂM ẤY
Đoạn hồi ký kể lại chuyến đi chúc Tết gia đình liệt sĩ Bùi Minh khi đơn vị đã biết anh hy sinh nhưng địa phương chủ trương giấu tin để gia đình có cái Tết trọn vẹn. Trong không khí nửa vui nửa buồn, người kể phải nén đau, nói dối rằng anh vẫn khỏe mạnh nơi chiến trường. Chi tiết đứa con nhỏ hồn nhiên mong “cục phấn” làm thầy giáo càng làm câu chuyện thêm xót xa. Khi ra về, người bác – Thường vụ Đảng ủy xã – nắm tay cảm ơn vì các anh đã giúp gia đình giữ được niềm vui ngày Tết. Hơn ba mươi năm sa
Mùa xuân Mậu Thán (1968), lần đầu tiên xe tăng của quân đội ta xuất hiện trên chiến trường miền Nam. Trận đầu ra quân đã diệt gọn cứ điểm Làng Vây (7-2-1968). Làng Vây là một căn cứ phòng thủ mạnh, thuộc tập đoàn cứ điểm Khe Xanh, trong tuyến phòng thủ đường số 9. Căn cứ ở trên một - điểm cao, hướng bắc độ dốc lớn, lại có suối chạy dưới chân đồi. Căn cứ có 4 đại đội quân biệt kích ngụy Sài Gòn, khoảng 600 tên chiếm giữ, do 30 tên cố vấn Mỹ chỉ huy.
Đưa được vài chục chiến xe tăng từ nơi trú quân ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào được chiến trường đường số 9, trong hoàn cảnh đường sá còn nhiều khó khăn, không quân Mỹ ngày đêm điên cuồng đánh phá, lại giữ được bí mật tuyệt đối và bảo toàn được lực lượng, là bài toán rất “hóc búa” đòi hỏi trí tuệ Việt Nam phải có lời giải.
Để thực hiện ý định của Bộ Tổng Tư lệnh sau nhiều lần bàn bạc, cân nhắc các mặt về tính năng chiến thuật, kỹ thuật các chủng loại xe tăng ta có ngày đó, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Tàng - Thiết giáp chúng tôi đi đến quyết định: Đưa tiểu đoàn xe tăng hạng nhẹ PT.76 vào chiến trường.
Loại tăng PT.76 tuy sức mạnh chiến đấu không cao, sức bảo vệ của vỏ thép mỏng, sườn xe độ dày có 18 - 19mm, hỏa lực yếu, cỡ pháo nhỏ: 76mm, song sức cơ động lại cao, có thể tự bơi qua sông, qua suối, leo đồi dốc tới 38 độ, vượt dốc có độ nghiêng tới 32 độ... Chính các tính năng kỹ thuật trên là một nhân tố quan trọng đảm bảo yêu cầu bí mật bất ngờ tới phút chót, khi xe tăng ta xông lên cứ điểm quân địch mới biết...
Vì vậy sau chiến thắng, để giữ bí mật và giành thế bất ngờ đón thời cơ mới, Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp quyết định tổ chức cho tiểu đoàn PT.76 ém quân tại chiến trường đường số 9.
Sau thất bại trong chiến dịch Khe Sanh, năm 1969, đế quốc Mỹ đã tiến hành nghiên cứu hàng trăm dự án về vũ khí và thiết bị điện từ bí mật (gọi tắt là STAN) để thực hiện tự động hóa cao các thủ đoạn đánh phá, giám sát và bắt các mục tiêu, quan sát và bắn phá ban đêm trên tuyến hành lang đường mòn Hồ Chí Minh. Dự án này đã cho ra đời hàng trăm loại mìn sát thương, bom điều khiển bằng laser, khí tài quan sát ban đêm, bom chùm, máy đánh hơi người, bom loại nhỏ cỡ khuy áo, máy ghi địa chấn để thu nhận tình hình phương tiện, xe pháo hành quân v.v...
Trong 2 năm 1969 - 1970, chúng đã thả hàng triệu tấn bom trên dọc đường mòn. Thôi thì đủ kiểu ném bom, nào là bom “tọa độ”- nào là bom “xăm hầm”, nào là những đợt ném bom mang các tên ký quái như: “Đốt cháy rừng”, “Sấm rền”, “Hổ thép” v.v….
Tình hình đánh phá ác liệt như vậy mà vẫn giấu quân an toàn và bí mật, để đến đầu năm 1971, trong chiến trường đường số 9 - Nam Lào, trong đội hình chiến đấu, xe tăng PT.76 mang số hiệu 555 trước đây “tả xung hữu đột” trong trận Làng Vây, nay lại làm nên bất ngờ: Xông vào trung tâm điểm cao 543, dùng xích sắt chà sát các khu thông tin, ụ súng và cuối cùng để lên hầm chỉ huy của định, tạo điều kiện cho quân ta bắt sống Lữ trưởng Lữ dù số 3, Đại tá Nguyễn Văn Thọ, ngày 25-2-1971.
Kết quả đó là sự đấu trí và lòng dũng cảm của quân đội và nhân dân ta trong quá trình giấu quân trước sứe, mạnh kỹ thuật và sắt thép của kẻ thù, tuy nhiên khó tránh khỏi mất mát hy sinh.
Khoảng đầu năm 1969, tôi được ủy nhiệm của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh dẫn một số cán bộ các cơ quan: Tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật vào kiểm tra và nghiên cứu tình hình các mặt ở tiểu đoàn xe tăng PT76. Phiên hiệu của đơn vị là Tiểu đoàn 198.
Thật khó quên, ngày tôi đến, tiểu đoàn sau đợt hành quân dài ngày từ Vĩnh Yên vào tới chiến trường, khi đến gần tiểu đoàn bộ, trong khi chờ đợi giao liên đến đón, anh em ào ào nhảy xuống tắm, thôi thì cười nói, đùa giỡn ồn ào. . . .
Khi đại úy Nguyễn Văn Phùng, tham mưu trưởng tiểu đoàn ra đón tôi (nay anh Phùng là đại tá đã nghi hưu) sau câu chào hỏi, anh Phùng nói: “Chết rồi thủ trưởng ơi, các máy cảm ứng âm thanh và địa chấn Mỹ nó thả xuống rất nhiều, cái thì cắm sâu xuống đất, cái là dù treo lơ lửng trên ngọn cây. Anh em mới vào chưa đượm phổ biến, nay hò reo ầm ĩ như vậy, có thể sẽ bị bom đấy...”. Thế là kịp phân tán anh em về các hầm ở các đơn vị, còn tôi ở lại tiểu đoàn bộ.
Vâng, chẳng phải chờ đợi lâu, sáng hôm sau từng tốp máy bay Mỹ đến ném bom... chúng ném rất dài, hàng tiếng đồng hồ để xăm hầm. Tôi ngồi trong hầm chữ A rất chắc chắn, bom nổ quá gần nên chỉ thấy “ịch” một cái, hầm rung chuyển, đất đá tung lên rơi xuống nóc hầm rào rào, cây cối đổ gãy kêu răng rắc. Mặc dầu rất bình tĩnh song mỗi lần nghe tiếng “ịch” tôi cảm thấy như có luồng hơi lạnh chạy dọc sống lơng lên óc. Mỗi lần bom nổ “ịch” và hầm chao đảo, tôi lại xem đồng hồ và nghĩ: “Ta chưa chết...”. Bình tĩnh ngồi chờ cái “chết” nếu bom rơi trúng hầm...
Trong quá trình trú quân và di chuyển gấp để tránh các đợt B52, nhiều cán bộ chiến sĩ xe tăng đã hy sinh, như đại úy Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Viễn, thượng úy đại đội trưởng Nguyễn Văn Thơ, chiến sĩ, cơ công Nguyễn Tiến Chén... Trú quân ở chiến trường cũng là những trận chiến đấu không kém phần.ác liệt. ..
Khi ở Tiểu đoàn -198 ra, sau tết Canh Tuất, chúng tôi đến thăm gia đình liệt sĩ - đại úy Nguyễn Văn Viễn. Đến nhà thấy bố anh, tóc bạc phơ đang ngồi ở dưới dàn hoa thiên lý đan rổ, tôi vô cùng xúc động... Vợ anh nghe tin chạy tới. Tất cả gia đình chưa nhận được tin về sự hy sinh của anh... Chúng tôi đã kịp giữ im lặng, chúc sức khỏe gia đình, biếu quà của Bộ Tư lệnh rồi ra về.
Lần này sau chiến dịch đường số 9 - Nam Lào, vào khoảng cuối năm 1971, tôi và thiếu tá Hoàng Đăng Huệ, trưởng ban cán bộ (nay anh là Thiếu tướng đã nghỉ hưu ở Hà Nội), và thiếu tá Nguyễn Công Phác, trưởng ban chính sách (nay anh là đại tá đã nghỉ hưu ở Phú Thọ). Chúng tôi đi thăm hỏi một số gia đình liệt sĩ. . Tôi nhớ mãi câu chuyện xảy ra vào chiều 30 Tết năm ấy.
Chiếc xe Uoát vừa dừng ở cổng làng, một tốp các cháu nhỏ xúng xính trong bộ quần áo mới chạy ùa tới vây quanh chúng tôi, mắt tròn xoe như dò hỏi... Anh Hoàng Đăng Huệ, vốn là con người thận trọng, kéo tôi ra xa nói nhỏ: Thủ trưởng tạm ở ngoài này, để tôi và anh Phác vào trước xem động tĩnh ra sao đã. Hai anh vào làng, lúc này chỉ còn mình tôi nên lũ trẻ lại gần rụt rè hỏi: “Chú bộ đội hỏi nhà ai thế?”.
Tôi chợt nhớ đến câu “đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ” nên nói: “Các cháu ơi, nhà chú Bùi Minh bộ đội xe tăng ấy mà, năm nay có luộc nhiều bánh chơng không?”.
Các cháu nhao nhao trả lời: Mẹ chú ấy gói nhiều, luộc một nồi “to đùng”, vợ chú ấy cũng mua cho con bộ áo mới đấy... Lại còn mua cả pháo để Tết đốt nữa. . . Thế là tôi đã hiểu một phần nào rồi, gia đình có thể chưa nhận được giấy báo tử...
Hai anh Huệ và Phác ra, các anh kéo tôi ra xa lù trẻ, nói khẽ: Gia đình chưa nhận được tin Bùi Minh hy sinh đâu. Thôi hương hoa và nến ta giấu lại trong xe, chỉ mang kẹo, bánh vào thôi, coi như là đi chúc Tết thông thường. May quá, nếu không vào thăm dò trước lại lù lù mang hương, hoa nến vào nhà đúng chiều 30 Tết thì chết . . .
Vào tới ngõ, vợ anh Bùi Minh chạy ra, mừng rỡ nói: “Mời các anh vào nhà”, rồi chị chạy vào trước reo to: “U ơi các anh ở đơn vị đến chúc Tết...”. Tiếp chuyện tôi, chợt mẹ anh Bùi Minh hỏi: “Thế em nó có gửi thư về nhà không)” Tôi lạnh toát cả người vì vừa nói mình ở chiến trường ra, nhưng từ khi hỏi chuyện các cháu nhỏ ở đầu làng, tôi đã có chuẩn bì nên bình tĩnh đáp:
“Thưa bà, ở chiến trường bom đạn ác liệt lắm. Mỗi đơn vị phải ở cách xa nhau hàng hai ngày đường đi bộ, nên đơn vị đầu tiên cháu đến là đơn vị anh Minh nhà ta, sau đó đi vòng qua các đơn vị, cho tới lúc ra Bắc không có dịp trở lại. Khi ra cháu có nói điện thoại với anh Minh, anh chỉ nhắn bà, chị và cháu yên tâm. Nhìn nét mặt vợ Bùi Minh xịu xuống khi biết không có thư của chồng, tôi thấy lòng mình nặng trĩu...
Không khí trong nhà lúc này khó nói ra được, gia đình thì nửa vui, nửa buồn. Vui vì nghe tin chồng, con khỏe mạnh, buồn vì không có lấy một mẩu thư, dù chỉ vài dòng... Còn chúng tôi thấy đau đớn, xót xa vì biết đồng chí mình đã hy sinh mà không thể nói lên tấm lòng mình và thắp được nén nhang. Tôi nghĩ tới những vành khăn tang trên đầu người mẹ, người vợ trẻ và cháu bé kia... Còn ở góc bàn, đối diện với tôi, một bác trung niên tuổi độ trên 40, từ khi chúng tôi vào nhà, bác vẫn yên lặng không nói, đôi khi liếc nhìn chúng tôi như dò xét, sau đó lại nhìn ra vườn vẻ đăm chiêu.
May quá cháu nhỏ con anh Bùi Minh lon ton chạy đến cạnh tôi, thật là một cơ hội tốt, tôi bế cháu lên, ôm vào lòng, âu yếm hỏi: “Con bố Minh ở nhà có ngoan không? Bé thích quà gì để khi nào bố Minh về phép sẽ mang về cho?” Bé: “ứ ừ... cháu... cháu không lấy quà, cháu chỉ thích cục phấn cơ!”. ?. Sao lại thích cục phấn? - Tôi hỏi. Bà và mẹ cháu cùng cười nói: “ở nhà cháu thường lấy gạch vẽ nhì nhằng xuống sân làm thầy giáo dạy chữ cho chó và mèo đấy. Cháu muốn có cục phấn để làm thầy giáo”.
May quá - Bé đã làm cho tất cả đều vui. Tôi liếc nhìn người đàn ông, vẫn thái độ đăm chiêu và im lặng. Tôi nghĩ có lẽ ông ta có bệnh nên không nghe và không nói được. Hai anh Phác và Huệ nhìn tôi, như muốn nhắc nên cáo từ. Tôi vội chúc Tết gia đình và xin phép ra về.
Lạ quá, người đàn ông đứng dậy đi theo chúng tôi, khi tôi sắp lên xe, ông đến nắm chặt tay tôi: nói trong nước mắt: “Tôi là bác của Bùi Minh, tôi là Thường vụ Đảng ủy xã, xã đã nhận được giấy báo tử rồi. Đảng ủy chúng tôi chủ trương giấu kín để gia đình họ hàng có cái Tết yên vui. Ra giêng mới làm lễ truy điệu. Xin cảm ơn các anh, đã mang lại cho gia đình tôi cái Tết yên vui” .
Tôi xúc động, lặng người đi run run đưa hai bàn tay nắm chặt tay ông, còn ông đứng yên, hai giọt nước mắt từ từ chảy dài trên má . . .
Trên ba mươi mùa xuân đã trôi qua, một thời gian đủ để một thế hệ lớn lên và trưởng thành. Nhân Tết Nhâm Ngọ, ngồi viết những dòng này, trước mắt tôi như hiện lên ngôi nhà đơn sơ ở cái làng nhỏ bé thuộc tỉnh Hải Hưng ngày ấy, nay chắc đã khang trang hơn. Trước sân những cây cam nặng trĩu, quả chín đỏ mọng. Trong nhà, ở gian bếp một thanh niên còn trẻ trạc tuổi 30, quây quần bên anh, một tốp cháu nhỏ, có lẽ là học sinh đến chúc Tết thầy. Họ vui vẻ nói chuyện những ước mơ... gương mặt cả thầy và trò thật rạng rỡ. Ở gian nhà giữa, một phụ nữ trạc tuổi 50, nhưng tóc đã chớm bạc, đang ôm đứa cháu vào lòng, chỉ tay lên bàn thờ nói: “ông đấy... ông đấy...”. Còn cháu nhỏ bi bô nói theo: “ông... ông...”.



