Bài viết

CHIÊU MINH ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUANG KHẢI - HÀO KHÍ ĐÔNG A VÀ BẬC THẦY VĂN VÕ TOÀN TÀI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG

Hà Nội14/08/2026Lê Thị Thanh Vân ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHIÊU MINH ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUANG KHẢI - HÀO KHÍ ĐÔNG A VÀ BẬC THẦY VĂN VÕ TOÀN TÀI TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGUYÊN - MÔNG

Trong lịch sử hào hùng của nhà Trần, nếu như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là biểu tượng đỉnh cao của nghệ thuật quân sự bách chiến bách thắng, thì Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải chính là hiện thân của một bậc vĩ nhân văn võ song toàn, một nhà chính trị, ngoại giao lỗi lạc và là người đặt nền móng cho những chiến thắng oanh liệt của dân tộc. Không chỉ là một đại thần kiệt xuất trải qua ba đời vua, quản lý toàn bộ việc nước, ông còn là người có công lao hàng đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai, ghi dấu ấn đậm nét vào trang sử vàng giữ nước của Đại Việt.

Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải sinh vào ngày 24 tháng 08 năm 1241 (tức tháng 10 âm lịch năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 10). Ông là hoàng tử thứ ba của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) – vị hoàng đế khai quốc của vương triều Trần, và mẹ là Hiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu Lý thị, đồng thời là em ruột cùng mẹ với vua Trần Thánh Tông (Trần Hoảng).

Sinh ra trong dòng máu hoàng tộc đầy tự hào, ngay từ khi mới lọt lòng, ông đã trải qua một giai thoại đặc biệt khi bị chứng kinh phong kịch liệt suýt c.h.ế.t. Trong cơn nguy kịch, vua cha Thái Tông đã phải đặt chiếc áo của Thượng hoàng và thanh gươm báu truyền quốc bên cạnh để cầu an, khấn rằng nếu con sống lại sẽ ban cho những báu vật này. Đến khi hoàng tử tỉnh lại, vua bảo gươm báu là vật tạo mệnh quốc gia không thể trao bừa nên chỉ ban chiếc áo hoàng tộc.

Từ thuở thiếu thời, Trần Quang Khải sớm được thụ giáo nhà học giả lừng danh – Bảng nhãn Lê Văn Hưu. Nhờ sự dạy dỗ nghiêm cẩn này cùng tư chất thông minh hiếm có, ông không chỉ tinh thông võ nghệ, rèn luyện nghiêm cẩn đạo trị nước mà còn nổi tiếng là người học rộng biết nhiều, giỏi thơ phú, am hiểu sâu sắc ngôn ngữ cũng như phong tục của các bộ tộc thiểu số vùng biên viễn (người nước Phiên). Chính nền tảng giáo dục gia đình và tư duy mẫn tiệp này đã sớm tôi luyện ông thành một vị đại thần có tầm nhìn chiến lược từ thuở niên thiếu.

Bước vào tuổi 20 (năm 1261), Trần Quang Khải chính thức tham gia chính sự với chức vụ Thái úy, đứng ra gánh vác việc triều chính. Đến năm 1265, ông được phong làm Thượng tướng và được cử vào trấn thủ lộ Nghệ An – địa bàn chiến lược cốt tử phía Nam của Đại Việt thời bấy giờ. Tại đây, ông không chỉ có công lao to lớn trong việc an dân, xây dựng vùng Thanh - Nghệ thành hậu phương vững chắc mà còn kết hôn với Phụng Dương công chúa (con gái của Thái sư Trần Nhật Hiệu).

Năm 1271, ông chính thức thăng làm Tướng quốc Thái úy, trở thành vị đại thần đầu triều nắm giữ vận mệnh đất nước. Đến năm 1282, ông tiếp tục được thăng chức Thượng tướng Thái sư, nắm toàn quyền điều hành cả về quân sự lẫn hành chính dưới thời vua Trần Nhân Tông.

Trên cương vị Thừa tướng tối cao, ông đã thể hiện tài năng bang giao lỗi lạc. Trong giai đoạn thế nước hiểm nghèo trước họa xâm lăng, ông là người chịu trách nhiệm chính trong việc tiếp đón các sứ bộ ngạo mạn, hách dịch của nhà Nguyên như Sài Thung. Bằng thái độ mềm dẻo nhưng kiên quyết bảo vệ chủ quyền, ông đã khéo léo đấu trí để trì hoãn thời gian, giúp nhà Trần có thêm thì giờ quý báu chuẩn bị lực lượng, thậm chí còn mưu trí viết thơ tiễn tặng sứ thần khi họ về nước để giữ hòa khí quốc gia.

Khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai bùng nổ khốc liệt vào năm 1285, trước sức mạnh như vũ bão của giặc, Trần Quang Khải được giao trọng trách tổng chỉ huy mặt trận Thanh - Nghệ để chặn đứng mũi tiến công hiểm hóc của Toa Đô từ phía Nam đánh ra. Gặp lúc tình thế vô cùng nguy ngập, lại thêm sự phản bội của tôn thất Trần Kiện, ông đã khôn khéo thực hiện chiến thuật phòng ngự chủ động, chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu và dùng kế nghi binh để vắt kiệt sức lực của quân địch, khiến quân Toa Đô cạn kiệt lương thảo, buộc phải rút chạy ra Bắc.

Đỉnh cao chiến công của ông chính là trận Chương Dương độ lịch sử. Phối hợp cùng các tướng lĩnh trẻ tuổi như Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản và Thượng tướng Phạm Ngũ Lão, ông đã trực tiếp chỉ huy quân thủy bộ tổng tấn công vào bến Chương Dương – căn cứ đầu não của quân Nguyên tại Thăng Long. Quân ta phá tan nát hạm đội chiến thuyền quân địch, thừa thắng quét sạch toàn bộ lực lượng của Thoát Hoan khỏi Thăng Long, giải phóng kinh đô và mở ra bước ngoặt quyết định cho ngày toàn thắng của dân tộc. Khi rước xa giá hai vua Trần trở về kinh sư, trước cảnh tượng non sông sạch bóng quân thù, ông đã tức cảnh sinh tình viết nên bài thơ bất hủ "Tụng giá hoàn kinh sư" (Đoạt sáo Chương Dương độ / Cầm hồ Hàm Tử quan / Thái bình tu trí lực / Vạn cổ thử giang san).

Bên cạnh những chiến công hiển hách trên chiến trường, giá trị nhân văn cao đẹp nhất của Trần Quang Khải chính là tinh thần đại cục, dám gạt bỏ hiềm khích cá nhân vì đại nghĩa dân tộc. Do những ân oán lịch sử giữa hai chi họ (dòng trưởng của Trần Liễu và dòng thứ của Trần Cảnh), bản thân ông và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ban đầu cũng có những bất hòa cá nhân sâu sắc.

Tuy nhiên, trước họa diệt vong của đất nước, hai vị vĩ nhân đã chủ động hòa giải. Lịch sử mãi lưu danh giai thoại "cởi áo tắm thơm" trên bến sông, khi Hưng Đạo vương chủ động đến thuyền của Trần Quang Khải chơi suốt ngày, biết Thái sư lười tắm gội nên đã tự tay dội nước thơm tắm cho ông. Sự chân thành và cái nắm tay hòa hợp ấy đã xóa bỏ hoàn toàn băng giá giữa hai người, tạo nên một khối đại đoàn kết tối cao giữa vị tướng văn tối cao và vị tướng võ kiệt xuất, trở thành hạt nhân gắn kết toàn bộ hoàng tộc nhà Trần thành một khối thống nhất để chiến thắng kẻ thù.

Sau khi đất nước thanh bình, ông tiếp tục giữ ngôi Thái sư, cùng vợ là Phụng Dương công chúa nuôi dạy con cái thành tài (trong đó có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Vũ Túc vương Trần Quang Đạo đều là những bậc hiền tài, giỏi văn học). Ông tận tụy cống hiến trọn vẹn tâm huyết cho vương triều trải qua 3 đời vua (Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông) cho đến khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 26 tháng 07 năm 1294 (thọ 52 tuổi).

Sự hy sinh và cống hiến của ông đã trở thành bất tử trong lòng dân tộc. Sử thần Phan Huy Chú trong sách "Lịch triều hiến chương loại chí" đã trân trọng ngợi ca: "Công lao thu phục được nước, ông đứng thứ nhất". Vua Trần Thánh Tông lúc sinh thời đã ban tặng ông hai câu thơ tôn vinh trọn vẹn một cuộc đời: "Nhất đại công danh thiên hạ hữu / Lưỡng triều trung hiếu thế gian vô". Cho đến ngày nay, ông được nhân dân tôn kính thờ phụng tại nhiều đền đình linh thiêng như làng Cao Đài, đền Thái Vi, và tên của vị anh hùng văn võ song toàn này mãi mãi được trang trọng đặt cho những đại lộ, trường học lớn trên khắp đất nước Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn