Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật – Vị tướng "nhà ngoại giao thiên tài", người đại phá quân giặc tại cửa Hàm Tử (1255 – 1330).
Một tấm gương anh hùng kiệt xuất, vị danh tướng tài hoa bậc nhất về ngoại giao - ngoại ngữ và là trụ cột quan trọng trong cả hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông chính là Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật – Vị tướng "nhà ngoại giao thiên tài", người đại phá quân giặc tại cửa Hàm Tử (1255 – 1330).
Bậc kỳ tài hiếm có về ngoại ngữ và văn hóa dân tộc
Trần Nhật Duật (sinh năm 1255) là con trai thứ sáu của Vua Trần Thái Tông. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ trí tuệ xuất chúng, tính tình khoáng đạt và đặc biệt có năng khiếu thiên bẩm về ngôn ngữ.
Khác với nhiều tướng lĩnh chỉ thuần túy luyện tập binh thư võ nghệ, Trần Nhật Duật say mê tìm hiểu phong tục, tập quán và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số vùng cao cũng như các nước lân cận. Ông thông thạo tiếng Mường, tiếng Tày, tiếng Chăm và tiếng Hán. Tài trí của ông lớn đến mức sứ thần nhà Nguyên khi sang giao thiệp đã vô cùng kinh ngạc khi thấy ông trò chuyện tự nhiên, am hiểu sâu sắc văn hóa phương Bắc không khác gì một người bản xứ.
Thu phục Trịnh Giác Mật không tốn một giọt máu (1280)
Năm 1280, tù trưởng Trịnh Giác Mật ở vùng Đà Giang (Ninh Bình - Hòa Bình ngày nay) nổi dậy chống lại triều đình. Trước nguy cơ chiến tranh nổ ra ngay trước thời điểm quân Nguyên chuẩn bị xâm lược, Trần Nhật Duật được cử đi thu phục.
Thay vì dùng binh lực đàn áp, Trần Nhật Duật cưỡi ngựa đơn thân độc mã, chỉ mang theo vài tiểu đệ đi thẳng vào bản doanh của Trịnh Giác Mật. Tại đây, ông dùng chính tiếng địa phương để trò chuyện, ăn uống theo đúng tập tục của người Mường, coi Trịnh Giác Mật như anh em ruột thịt.
Cảm phục trước sự chân thành, dũng cảm và am hiểu phong tục của vị hoàng thân triều Trần, Trịnh Giác Mật đã quy hàng hoàn toàn. Cuộc nổi dậy được giải quyết êm đẹp mà không tốn một giọt máu, giữ vững sự ổn định vùng biên cương Tây Bắc cho Đại Việt.
Đại thắng Hàm Tử quan – Đập tan binh đoàn Toa Đô (1285)
Trong cuộc Kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai (1285), Trần Nhật Duật được giao trọng trách chỉ huy lực lượng thủy quân kết hợp với các toán quân Tống quy phục (quân của Tố Tiết) để chặn đánh binh đoàn hiểm hóc của Toa Đô từ Champa đánh ngược ra phía Bắc.
Tháng 5 năm 1285, Trần Nhật Duật chỉ huy quân ta mở trận quyết chiến tại bến Hàm Tử (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên):
Ông linh hoạt kết hợp lực lượng thủy chiến Đại Việt với cánh quân Tống do Triệu Trung chỉ huy. Việc thấy cờ hiệu nhà Tống xuất hiện trên thuyền chiến đã làm quân Nguyên hoang mang tột độ.
Trần Nhật Duật trực tiếp thúc quân xông thẳng vào đội hình giặc, đánh tan hoàn toàn thủy quân Nguyên - Mông, tiêu diệt hàng vạn tên giặc và làm phá sản kế hoạch gọng kìm nguy hiểm của Thoát Hoan và Toa Đô.
Trận đại thắng Hàm Tử quan do Trần Nhật Duật chỉ huy cùng với trận Chương Dương của Trần Quang Khải đã tạo nên đòn quyết định giải phóng hoàn toàn Thăng Long.
Vị tướng trải qua 4 đời vua – Trụ cột thời thái bình
Sau chiến thắng Nguyên - Mông, Trần Nhật Duật tiếp tục giữ các chức vụ cao cấp như Tể tướng, Thái蔚 và phụng sự tận tụy qua 4 đời vua Trần (Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông).
Ông sống thanh cao, hòa nhã, không bao giờ cậy công hay mưu cầu quyền lực riêng. Năm 1330, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật qua đời, hưởng thọ 75 tuổi. Ông là biểu tượng trọn vẹn cho trí tuệ Đại Việt: mưu trí trong ngoại giao, dũng mãnh trên chiến trường và đức độ chốn triều chính.



