Chín năm cõng sách đi sơ tán của một trường đại học
Từ năm 1965 đến 1973, Trường Đại học Sư phạm Vinh phải liên tục sơ tán qua nhiều vùng nông thôn, miền núi Nghệ An và Thanh Hóa. Dưới sự dẫn dắt của Hiệu trưởng Nguyễn Thúc Hào, thầy trò tự dựng lán, đào hầm và tiếp tục đào tạo giáo viên giữa chiến tranh.
Mùa hè năm 1965, những cuốn sách trong thư viện Trường Đại học Sư phạm Vinh được đóng thành từng kiện. Bàn ghế, tài liệu giảng dạy và dụng cụ học tập cũng được thu xếp để chuyển đi.
Đây không phải một lần chuyển trường thông thường. Máy bay Mỹ đã bắt đầu đánh phá miền Bắc. Thành phố Vinh, nằm gần các tuyến giao thông quan trọng dẫn vào chiến trường miền Nam, trở thành một trong những trọng điểm bị oanh tạc.
Một trường đại học mới thành lập chưa đầy sáu năm buộc phải rời cơ sở của mình.
Người đứng đầu nhà trường lúc ấy là Giáo sư Nguyễn Thúc Hào.
Ông sinh ngày 6 tháng 8 năm 1912 tại làng Xuân Liễu, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau quá trình học tập tại Hà Nội và Pháp, Nguyễn Thúc Hào trở thành một trong những nhà toán học được đào tạo bài bản sớm nhất của Việt Nam.
Ông từng dạy tại Trường Quốc học Huế. Trong số học trò của ông có những người về sau trở thành các nhà thơ, nhà văn và trí thức nổi tiếng. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Thúc Hào tham gia xây dựng hệ thống giáo dục của chính quyền mới, đảm nhiệm nhiều công việc quản lý và giảng dạy.
Ngày 16 tháng 7 năm 1959, Bộ Giáo dục ký Nghị định số 375 thành lập Phân hiệu Đại học Sư phạm Vinh. Đây là một trong những trường đại học đầu tiên được xây dựng ngoài Hà Nội và cũng là cơ sở đại học nằm xa nhất về phía nam của miền Bắc lúc bấy giờ.
Nguyễn Thúc Hào được giao nhiệm vụ xây dựng trường và trở thành hiệu trưởng đầu tiên.
Cơ sở ban đầu của phân hiệu hết sức thiếu thốn. Đội ngũ Ban Toán – Lý chỉ có khoảng bảy giảng viên. Năm học đầu tiên, trường đào tạo hai ban là Toán – Lý và Văn – Sử. Thầy giáo vừa giảng dạy, vừa soạn giáo trình, xây dựng chương trình và tổ chức đời sống cho sinh viên.
Ngày 29 tháng 2 năm 1962, Phân hiệu được đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Vinh. Nhà trường đang từng bước ổn định thì chiến tranh phá hoại lan đến miền Bắc.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, máy bay Mỹ đánh vào khu vực Vinh – Bến Thủy. Những cuộc oanh tạc về sau diễn ra ngày càng ác liệt. Cơ sở giáo dục tập trung đông người không thể tiếp tục hoạt động an toàn tại thành phố.
Nguyễn Thúc Hào cùng Ban giám hiệu quyết định đưa trường đi sơ tán.
Từ năm 1965, các khoa và bộ phận của trường được chia nhỏ, chuyển về nhiều địa phương thuộc Nghệ An và Thanh Hóa. Mỗi đơn vị chọn một khu vực tương đối kín đáo, thường nằm xa đường lớn và các mục tiêu dễ bị phát hiện từ trên không.
Thầy và trò phải tự dựng lớp học, nhà ở và kho chứa sách. Vật liệu chủ yếu là tre, nứa, gỗ và những thứ có thể tìm được tại địa phương. Hầm trú ẩn được đào cạnh lớp. Hào giao thông nối khu học tập với nơi ở để mọi người có thể di chuyển khi máy bay xuất hiện.
Riêng Khoa Văn từng lần lượt đặt địa điểm tại tám huyện: Nghi Lộc, Thanh Chương, Hà Trung, Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Hoằng Hóa, Quỳnh Lưu và Yên Thành. Những đơn vị khác của trường cũng nhiều lần thay đổi nơi đóng quân.
Mỗi lần di chuyển, sách và tài liệu lại được đóng gói. Cán bộ, sinh viên mang theo những vật dụng cần thiết nhất. Vì phương tiện vận chuyển ít, không ít hành lý phải được gánh hoặc cõng trên vai.
Một trường đại học vốn được nhận diện bằng giảng đường, thư viện và phòng thí nghiệm lúc này tồn tại trong nhiều xóm làng cách xa nhau. Người dân địa phương nhường nhà, góp tre gỗ và giúp đỡ lương thực. Đổi lại, thầy trò trường đại học tham gia dạy học, lao động và những công việc chung của địa phương.
Tiếng kẻng hoặc tín hiệu báo động có thể cắt ngang một bài giảng. Khi máy bay đến, thầy trò xuống hầm. Khi tiếng động cơ qua đi và tình hình an toàn, lớp học lại tiếp tục.
Nguyễn Thúc Hào vừa điều hành nhà trường, vừa trực tiếp giảng dạy toán. Là người đứng đầu, ông phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề: bảo đảm an toàn, duy trì chương trình, bố trí giảng viên, chăm lo đời sống và giữ cho sinh viên không mất niềm tin vào việc học.
Trong điều kiện bình thường, việc đào tạo một giáo viên đã cần nhiều năm chuẩn bị. Giữa chiến tranh, nhiệm vụ ấy càng cấp thiết. Miền Bắc cần giáo viên cho các trường phổ thông, trong khi nhiều cán bộ và thanh niên đang tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến trường.
Vì thế, ngừng đào tạo cũng đồng nghĩa để lại một khoảng trống lớn cho giáo dục những năm sau.
Từ 1965 đến 1973, Trường Đại học Sư phạm Vinh trải qua chín năm sơ tán. Theo tư liệu của trường, đây là một trong những cơ sở chịu tổn thất nặng nề nhất trong hệ thống các trường đại học miền Bắc. Tuy nhiên, hoạt động đào tạo vẫn được duy trì.
Giữa những mái lán và hầm trú ẩn, sinh viên tiếp tục học giải tích, hình học, văn học và lịch sử. Nhiều người sau khi tốt nghiệp được phân công về các địa phương, trở thành giáo viên và tiếp tục mở lớp trong hoàn cảnh chiến tranh.
Nguyễn Thúc Hào còn dành thời gian dịch tài liệu toán học sang tiếng Việt. Trong nhiều năm, ông dịch 14 cuốn sách chuyên ngành từ tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp. Những tài liệu ấy giúp giảng viên và sinh viên Việt Nam tiếp cận kiến thức hiện đại trong điều kiện sách ngoại văn còn rất hiếm.
Năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, thầy trò bắt đầu trở về Vinh. Cơ sở cũ bị tàn phá, khu đất của trường gần như phải xây dựng lại. Sau hành trình cõng sách đi sơ tán, họ lại bắt tay dựng giảng đường trên nền đất trống.
Nguyễn Thúc Hào giữ cương vị hiệu trưởng đến năm 1974. Trong 15 năm ông lãnh đạo, một phân hiệu chỉ có vài khoa ban đầu đã vượt qua giai đoạn thành lập và những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Ông qua đời ngày 9 tháng 6 năm 2009, hưởng thọ 98 tuổi. Trung tâm Thông tin – Thư viện của Trường Đại học Vinh hiện mang tên Nguyễn Thúc Hào.
Câu chuyện của ông không gắn với một trận đánh cụ thể. Công việc ông bảo vệ là những lớp học. “Vũ khí” mà thầy trò mang theo là sách, giáo trình, bảng viết và kiến thức.
Suốt chín năm, địa chỉ của trường liên tục thay đổi, nhưng trường học không biến mất. Chỉ cần còn người dạy, người học và vài cuốn sách được giữ lại, giảng đường có thể được dựng lên dưới một mái lán giữa làng quê.


