Chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược
Sau Chiến thắng Phước Long, ngày 4/3/1975, ta mở Chiến dịch Tây Nguyên và giành thắng lợi. Giữa lúc ta đang truy kích địch rút chạy trên Đường số 7 thì ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị họp và nhận định: Với Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng, cuộc Tổng tiến công chiến lược của ta đã bắt đầu. Thời cơ chiến lược đã tới. Trong 20 năm chống Mỹ chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này. Do đó cần phải nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng, hành động táo bạo, bất ngờ làm cho địch không kịp trở tay, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt.
Thượng tướng Trần Việt Khoa, Giám đốc Học viện Quốc phòng cho rằng: Quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên và lựa chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược là một quyết định lịch sử, tạo ra những chuyển biến có lợi, đẩy nhanh hơn thời gian giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
“Địa bàn Tây Nguyên là một mục tiêu có rất nhiều sơ hở. Mục tiêu vừa hiểm lại vừa yếu. Sau khi ta tiến công, ngày 10/3, địch tiến hành tổ chức phản kích. Địch phản kích thất bại buộc phải đưa ra một quyết định hết sức sai lầm về chiến lược là rút toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 2, Quân khu 2 khỏi Tây Nguyên. Đây là quyết định sai lầm của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để lùi về đồng bằng duyên hải miền Trung dẫn đến thiệt hại thảm bại trên đường số 7. Từ chiến dịch Tây Nguyên, ta giành thắng lợi, làm chủ các tỉnh Tây Nguyên, mở ra cơ hội mới để giải phóng miền Nam trong thời gian sớm hơn” - Thượng tướng Trần Việt Khoa nhận định.
Trung tướng Phan Anh Việt, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (Bộ Quốc phòng) nhận định, ta chọn Buôn Ma Thuột là trận then chốt mở bàn chiến dịch là quyết định chính xác, một đòn đánh hiểm nhằm vào chỗ sơ hở, hiểm yếu của địch. Ta làm chủ Buôn Ma Thuột, làm tê liệt hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên. Địch bị thất thủ rút chạy, tạo thời cơ thuận lợi cho ta tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam.
"Tiếp đà chiến thắng, ta mở Chiến dịch tiến công Huế và Đà Nẵng. Chỉ sau 5 ngày, ta đã giải phóng hai thành phố, hai căn cứ quân sự trọng yếu thuộc diện mạnh nhất của địch. Đà Nẵng thất thủ, ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn rơi vào thế hoang mang cực độ. Lúc này, các hãng tin phương Tây đã bình luận “Đà Nẵng thất thủ, kể từ đây sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn chỉ tính bằng ngày, bằng giờ” - Trung tướng Phan Anh Việt phân tích.
Tiến sĩ Sử học Phạm Minh Thế lý giải rõ hơn về điều này: "Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp hải lục không quân hiện đại và mạnh vào bậc nhất ở miền Nam của chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hòa lúc bây giờ. Lực lượng của địch ở chiến trường khoảng 75.000 tên, là một lực lượng rất mạnh. Đây là cơ sở để Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố tử thủ Đà Nẵng bằng mọi giá. Vì Nguyễn Văn Thiệu cho rằng, sau khi ta giải phóng Huế, nếu muốn tiến công Đà Nẵng thì phải mất ít nhất 1 tháng để có sự chuẩn bị. Do đó khi mặt trận Đà Nẵng thất thủ thì sự sụp đổ của chính quyền tay sai Sài Gòn chỉ còn được tính bằng ngày, bằng giờ. Bởi vì sự thất thủ ở Đà Nẵng đã làm cho tinh thần chiến đấu và phản kháng của quân đội tay sai Việt Nam Cộng hòa trên toàn miền Nam bị rệu rã, hoang mang đến cực độ".
Với nhịp độ “một ngày bằng 20 năm”, ngày 1/4/1975, Bộ Chính trị đã chỉ thị: Nắm vững thời cơ chiến lược, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, có quyết tâm lớn thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4, không thể chậm. Như vậy, từ quyết tâm giải phóng miền Nam trong 2 năm, 1975 hoặc 1976, đến quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975, và cuối cùng là trước mùa mưa năm 1975 đã cho thấy sự linh hoạt và quyết đoán cao của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương khi thời cơ đến, để dốc sức, dồn mọi điều kiện thuận lợi nhanh nhất, tốt nhất, hợp lý nhất và khoa học để kết thúc chiến tranh, giành độc lập. Lúc này, cả dân tộc đang chuẩn bị bước vào trận quyết chiến cuối cùng với quân thù.



