Chống tố cộng, diệt cộng, giữ gìn lực lượng (1956 - 1959) tại Mỹ Nhơn
Tháng 7/1956, Ngô Đình Diệm cự tuyệt Hiệp thương tổng tuyển cử, trắng trợn phá hoại hiệp định Giơnevơ, công khai tiến hành chiến tranh một phía đánh vào Nhân dân, tiến hành đàn áp công khai những người yêu nước và phong trào cách mạng Việt Nam thông qua quốc sách tố cộng và diệt cộng. Địch buộc Nhân dân ta làm thẻ căn cước, lập sổ hộ tịch, lập ngũ gia liên bảo, phân loại gia đình ABC với mục đích “nắm dân”.
Loại A: gia đình bất hợp pháp gồm cán bộ, đảng viên, những người kháng chiến cũ.
Loại B: gia đình bán hợp pháp gồm những người ít nhiều có quan hệ với cách mạng.
Loại C: gia đình hợp pháp, những người ủng hộ chúng.
Mỗi nhà phải có bảng tố cộng và bảng ghi số nhà với ba màu khác nhau để phân biệt gia đình quốc gia, thân cộng, cộng sản. Chúng tổ chức cho Nhân dân học “tố cộng”, bắt dân ta xé cờ Đảng, ảnh Bác,… thực hiện khẩu hiệu “thà giết lầm hơn bỏ sót”, địch thẳng tay bắt bớ, giam cầm, khảo tra đánh đập những người chúng nghi ngờ là Việt cộng.
Ngoài ra, địch còn đưa lực lượng công dân vụ, lực lượng do thám giả dạng nông dân đi giăng câu, những người làm nghề mộc,… vào tận các ấp để nhằm thu thập tình hình, lập danh sách cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến cũ.
Ngày 10/7/1956, cảnh sát Do - một cán bộ cách mạng được ta cài vào hàng ngũ địch nhưng phản bội - đã chỉ huy lực lượng cảnh sát bắn chết đồng chí Bùi Văn Mít và đồng chí Phạm Văn Khơi trên đường đi công tác. Huyện ủy cử đồng chí Trần Văn Tiên làm Bí thư chi bộ. Sau khi tên Do làm phản, một số đồng chí được ta cài vào hàng ngũ địch bị lộ đã tránh né đi nơi khác; số còn lại ngã về phía địch như Ty, Sắn, Cỏn, Thởn làm cho tình hình trở nên phức tạp.
Ngày 22/10/1956, Diệm ra tiếp Dụ số 57 với khẩu hiệu “hữu sản hoá nông dân”. Theo quy định của Dụ 57, địa chủ ở miền Nam được phép giữ lại 100 ha, số còn lại chính quyền Diệm truất hữu bằng cách mua lại để bán cho nông dân. Người nông dân vì không có tiền mua đất “truất hữu” nên hầu hết số ruộng này lại rơi vào tay địa chủ, quan chức ở địa phương. Dựa vào Dụ này, một số địa chủ đã ngóc đầu dậy đòi tăng tô, truy tô, cưỡng bức Nhân dân Mỹ Nhơn phải trả lại đất ruộng đã được cách mạng chia cấp trong kháng chiến, người dân Mỹ Nhơn trở lại thân phận tá điền, cuộc sống cơ cực, lầm than.
Do tình hình địch truy lùng gắt gao, đồng chí Trần Văn Tiên (Hai Tiên) - Bí thư chi bộ bị bắt, Huyện ủy cử đồng chí Trần Văn Ngưng (Tư Tấn) làm Bí thư chi bộ. Theo sự chỉ đạo của trên, các đảng viên đi điều lắng để bảo tồn lực lượng; do bị tên Do nhận mặt nên đồng chí Tư Tấn phải đi điều lắng, đồng chí Nguyễn Văn Nhì (Bảy Sơn) làm Bí thư thay đồng chí Tư Tấn nhưng chỉ sáu tháng sau, đồng chí Bảy Sơn bị lộ phải đi điều lắng. Huyện ủy cử Khổng Minh Tăng (cán bộ Huyện ủy Ba Tri) về phụ trách địa bàn Mỹ Nhơn. Thời kỳ này phong trào cách mạng ở Mỹ Nhơn đứng trước thử thách nghiêm trọng. Cơ sở cách mạng trong quần chúng bị vỡ, những cán bộ nòng cốt ta cài vào bộ máy tề, ngụy quân bị thanh lọc, sa thải; số quần chúng nòng cốt còn lại rất ít. Khi địch thực hiện luật 10/59, khủng bố ác liệt, Khổng Minh Tăng rời Mỹ Nhơn sang vùng địch tạm chiếm ở Phú Ngãi sinh sống và đầu hàng địch, phong trào cách mạng ở Mỹ Nhơn bị tổn thất nặng nề. Ngày 10/6/1959, người đảng viên cuối cùng trong chi bộ là đồng chí Bảy Sơn đi điều lắng thì ở Mỹ Nhơn không còn một đảng viên nào, chỉ còn hai đoàn viên là Nguyễn Thị Em và Lương Thị Điểm.
Trong quá trình thực hiện tố cộng, diệt cộng địch đã sử dụng mọi biện pháp từ dụ dỗ, mua chuộc đến đàn áp dã man. Tại Mỹ Nhơn, địch lên danh sách tử hình trên 20 đồng chí chủ yếu là nòng cốt của ta. Chúng buộc vợ các đồng chí đi tập kết phải ly hôn chồng, buộc cha phải từ con, gây tâm lý nghi ngờ chia rẽ trong Nhân dân, ly gián giữa Đảng với quần chúng cách mạng. Ta đẩy mạnh công tác dân vận để phân hoá hàng ngũ địch vừa củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với cách mạng.
Tuy nhiên, đến cuối năm 1959, một số đồng chí đi điều lắng đã tìm cách trở về, dựa vào dân, bám dân để gầy dựng lại phong trào. Nhân dân tổ chức canh gác, theo dõi địch, làm hầm bí mật, vách đôi có thể chứa được 2-3 người như gia đình bà Nguyễn Thị Hoa làm vách đôi có thể chứa được nhiều người,… Với mưu trí, sáng tạo, Nhân dân đã tạo nên những cơ sở trú ẩn an toàn cho cán bộ đảng viên địa phương và nơi khác đến, không quản ngại sự khó khăn, gian khổ, kể cả tính mạng của bản thân và những người thân trong gia đình đang bị đe doạ. Chính nhờ sự đùm bọc, chở che của Nhân dân, tinh thần kiên trung của cán bộ đảng viên đã giúp cho phong trào cách mạng ở Mỹ Nhơn vượt qua thời kỳ đen tối và bùng lên mạnh mẽ khi có Nghị quyết 15 của Đảng ra đời.



