Chớp mắt một quãng đời (6)
Đầu năm 1945, tình hình chính trị ở Sài Gòn có nhiều rối ren, biến động. Máy bay của quân Đồng minh ném bom ở Sài Gòn, nhiều người dân Sài Gòn phải đi tản cư ra ngoại thành để tránh bom. Quân Pháp co cụm và, vào ngày 9 tháng 3, Nhật đảo chánh Tây, mọi người gọi là Coup d'État du 9 Mars. Kinh tế lại lâm vào khó khăn, tôi lập tức quay về Sa Đéc, dạy tiếng Pháp trong thời gian ngắn. Thời điểm này, dạy Pháp văn không phải hợp thời. Tình hình ở Sa Đéc đã bắt đầu khá lộn xộn, bất ổn. Nhật chiếm hết công sở của Pháp. Theo mô tả trong hồi ký đánh máy của thầy giáo Trần Quang Hạo ở Cao Lãnh cho biết, ông Chủ quận Đỗ Văn Công lúc đó thấy tình hình rối ren đã vội vàng “từ quan", mướn tàu lửa Hiển Thành chạy trốn về Sài Gòn. Sau khi ông ta đi rồi, mấy ngày sau, một xe hơi bóng nhoáng đậu tại chợ.
Người ta thấy một sĩ quan mặc quân phục Nhật, đội kết, đeo gươm hết sức oai phong lẫm liệt, tự xưng “Tổng đốc lưỡng tỉnh” (Sa Đéc và Long Xuyên), ra lịnh cho Nhà việc làng Mỹ Trà phải nổi trống, gom dân lại để y tá nói chuyện. Thôi thì đã diễn thuyết huyên thuyên, y còn lớn tiếng kêu gọi dân chúng được quyền xét xử, phán quyết “ai gây oán trả oán, ai làm ơn trả ơn”... Chẳng hiểu sao, nhiều người quá khích lại nghe lời, đã hùng hục mang giáo, mác và lửa tới định đốt chợ Cao Lãnh. Thầy giáo Hạo nghe tin chạy tới phải can ngăn, phân tích thiệt hơn hết sức, họ mới thôi. Bấy giờ, tình hình quá đen tối, ai theo Pháp, ai là Việt Minh, nếu bắt được, lính Nhật sẽ cho ngồi tù, trấn nước hoặc cho đi “mò tôm”! Tất nhiên, cũng không loại trừ những người xấu trong làng lợi dụng tình hình, tự gây khó, làm hại chính người dân Việt Nam của mình. Tôi lúc này cũng biết chút ít tiếng Nhật nhờ tự học qua sách nhưng nếu bị buộc phải làm thông dịch cho người Nhật đang hiếp đáp dân mình, tôi không làm. Thế là, đến khoảng giữa tháng 5, để tránh bọn lính Nhật dòm ngó, tôi trốn êm lên Nam Vang.
Những ngày đầu tôi đi lang thang trên các đường phố Nam Vang. Thiệt tình, mấy năm rời bỏ Nam Vang, giờ trở lại, tôi hơi ngại ngần, không biết người quen, bạn bè cũ còn lại ai để hỏi thăm. Tình cờ, thấy trong tiệm hớt tóc bên đường có treo cây đờn để dành cho “khách tài tử” chơi đờn, tôi bước vào, ngồi so dây, rồi rao, đờn mấy bản. Anh chủ tiệm hớt tóc nghe tôi đờn, tỏ vẻ rất vui, anh quay sang hỏi thăm và biết chuyện tôi từ Việt Nam mới qua Nam Vang, nên bảo tôi cứ ở lại nghỉ ngơi tại tiệm hớt tóc. Anh này thật tử tế! Ở đây được hai hôm, tôi từ giã anh chủ tiệm hớt tóc để ra đi, lo kiếm việc làm.
Đang đi lang thang, tôi nghe tiếng gọi giật ngược:
- Anh chín! Anh chín! Anh lên đây hồi nào?
Thì ra là thầy giáo Bình. Trước đây, lúc ở Sa Đéc, giáo Bình có ở nhà tôi mấy tháng nên mang ơn ba má tôi lắm. Biết tôi chưa tìm được nhà, anh rủ tôi về nhà. Ở nhà giáo Bình ba hôm, tôi cảm ơn và từ giã gia đình anh để ra đi. Thực sự, ra đi như thế này cũng là một điều khó khăn, bởi bây giờ trong túi tôi trống rỗng, không còn một đồng xu! Nhưng tôi suy nghĩ: phải kiên quyết đi thôi. Tôi tin nếu mình đi tìm việc thì việc chắc chắn sẽ gặp. Phải kiên trì với chuyện mưu sinh, nhất là bây giờ tôi đang một thân, một mình, không nhà, không cửa, không tiền, không bạc ở nơi xứ lạ, quê người!
Buổi chiều hôm đó, tôi đang đi lang thang ngang nhà hàng Paris của một người Hoa kiều tại Nam Vang, bỗng có tiếng người gọi thiệt lớn:
- Chú chín! Chú chín! Vô đây chơi, chú chín!
Tôi nhìn vào thấy thầy Tư Phụng đang ngồi với một người đàn ông. Cả hai đều mặc áo sơ mi, đóng thùng, ra vẻ dân thầy chú lắm. Tôi biết thầy Tư Phụng từng làm việc hành chính ở Xã Tây lo giấy tờ hộ tịch, đo đạc và tôi cũng thường tiếp xúc với thầy trước đây, nên không ngại ngần với thầy lắm. Tôi bước vào, kéo ghế ngồi bên cạnh hai người. Thầy Tư Phụng lăng xăng nói:
- Chú chín lên đây hồi nào sao không ghé tôi? Chú chín Bảo là người quen của tôi. Chú chín đây giỏi luật lắm!
Tôi chưa kịp phản ứng, thầy Tư Phụng quay sang người đàn ông, vừa nói, vừa chỉ về phía trước:
- Giới thiệu với chú chín đây là ông Hứa Hóc Dũ, chủ cái nhà hàng bên kia đường, trước mặt mình đó...
Hóa ra, thầy Tư Phụng và ông Hứa Hóc Dũ, một Hoa kiều, đang bàn chuyện làm cách nào để lấy lại ngôi nhà ngủ đã mua lại từ luật sư Bertrand nhưng còn bị vướng một người phụ nữ Pháp ở mãi trong nhà, không chịu dọn đi. Hiện tại, cô ta đang bị Nhật bắt, bởi lúc đó Nhật đang chiếm đóng cả Đông Dương. Họ đã trruất phế và bắt tất cả những người Pháp ở Nam Vang vào trại tập trung. Tuy nhiên, tôi nhận thấy về mặt luật pháp lúc bấy giờ, cô đầm Obriot vẫn trả tiền thuê nhà đều mỗi tháng, đúng hạn, theo đúng luật, khó có thể thắng kiện cô ta. Tôi góp ý, chỉ còn cách duy nhất là xin vào trại tập trung gặp Obriot, rồi thương thuyết với cô ta, may ra... Thầy Tư Phụng ngắt lời, thầy nói cách đó họ đã làm rồi nhưng không thành công.
- Tại sao? Tôi hỏi
- Chẳng biết nữa! Con đầm này cứng rắn lắm!
Thầy Tư Phụng xua tay, giọng buồn buồn. Rồi thầy Tư Phụng đề nghị tôi giúp dùm.
Sau nhiều lần từ chối với thầy Tư Phụng và ông Hứa Hóc Dũ không được, tôi đành “hứa” lãnh mạng đi thuyết phục Obriot.
Lạ lùng làm sao, tôi nghĩ là chỉ “thử thuyết khách” giai đoạn đầu, nếu không thành thì thôi. Không ngờ, trong thời gian ngắn tìm cách tiếp xúc với Obriot, cuối cùng, cô đầm gốc Lorraine này đã chịu nghe ý kiến phân tích lý, tình của tôi và đồng ý rút lui. Sau đó, cô nhận nhận tiền bồi hoàn khoảng 40.000 đồng và không nhắc gì đến chuyện trở lại ngôi nhà thuê nữa. Sự thành công ngoài tưởng tượng này đã giúp tôi được sự tin cậy của Hứa Hóc Dũ. Để rồi, từ một người đang bị thất nghiệp, tôi được tín nhiệm, giao nhiệm vụ quản lý ngôi nhà ngủ, có tên Khách sạn La Lorraine (do Obriot đặt để nhớ quê hương của cô).



