Chu Cẩm Phong - Những trang nhật ký từ chiến trường Quảng Nam
Chu Cẩm Phong (1941–1971), tên thật là Trần Tiến, là một nhà văn, nhà báo và chiến sĩ cách mạng tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông đã từ bỏ tương lai nơi miền Bắc để trở về chiến trường miền Nam, trực tiếp sống, chiến đấu và ghi lại những năm tháng khốc liệt tại Quảng Nam. Những trang nhật ký của ông không chỉ phản ánh chân thực hiện thực chiến tranh mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc đối với quê hương, đồng đội và nhân dân.
Chu Cẩm Phong tên thật là Trần Tiến (12 tháng 8 năm 1941 – 1 tháng 5 năm 1971), là một nhà văn hiện đại Việt Nam. Sinh ra tại Hội An, Quảng Nam, ông lớn lên trong một gia đình gắn liền với truyền thống yêu nước mãnh liệt. Năm 1954, ông theo cha tập kết ra Bắc và theo học tại trường học sinh miền Nam. Sau đó, ông tốt nghiệp Khoa Ngữ văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Dù có cơ hội phát triển tương lai ở miền Bắc, ông vẫn quyết định tình nguyện trở về chiến trường miền Nam vào năm 1964. Khi ấy, ông mới 23 tuổi. Ông ra chiến trường với vai trò phóng viên Báo Giải phóng, phóng viên Thông tấn xã Giải phóng và Ủy viên Ban Chấp hành Hội Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ.
Giai đoạn từ năm 1964 đến năm 1971 là khoảng thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn căng thẳng nhất tại miền Nam. Chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng liên tục diễn ra những trận càn quét dồn dập, bom đạn trút xuống nhằm triệt phá các căn cứ cách mạng của quân giải phóng.
Năm 1964, gác lại tương lai xán lạn nơi hậu phương miền Bắc, Chu Cẩm Phong vượt dãy Trường Sơn trở về quê hương Quảng Nam để phục vụ công tác báo chí, tin tức và ghi chép nhật ký nơi chiến trường. Giữa vùng đất bị bom đạn cày xới liên tục, ông sống, làm việc và chiến đấu cùng nhân dân. Những trang nhật ký đầu tiên ghi dấu tình yêu tha thiết với từng ngôi làng, bến nước, cùng sự kiên cường của người dân Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình.
Sau Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, địch liên tục tấn công, biến nhiều khu vực ở Quảng Nam thành “vùng trắng”. Chu Cẩm Phong không vì thế mà trốn trong căn cứ. Ông liên tục bám sát các đơn vị chủ lực và lực lượng du kích vùng ven, mặc cho mức độ nguy hiểm vô cùng cao khi tuổi đời còn rất trẻ.
Nhiều trang tin tức, nhật ký được ông hoàn thành ngay trong hầm pháo, bên ánh đèn dầu chập chờn, hay sau những giờ đào hầm, cõng gạo. Từng trang nhật ký của nhà văn trẻ ghi lại chân thực từng cái chết, sự hy sinh thầm lặng của đồng đội, đồng thời ca ngợi, tri ân và tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn cũng như sự hy sinh kiên cường của người dân địa phương.
Đầu năm 1971, Chu Cẩm Phong cùng một nhóm cán bộ đi công tác tại vùng ven Duy Xuyên, Quảng Nam. Ngày 1 tháng 5 năm 1971, tại thôn 4, xã Xuyên Hòa, nay là xã Duy Hòa, huyện Duy Xuyên, hầm bí mật của nhóm ông bị địch phát hiện và bao vây.
Địch xả súng và ném lựu đạn xuống hầm. Chu Cẩm Phong cùng đồng đội đã kiên cường đánh trả, diệt nhiều tên địch cho đến khi cạn kiệt đạn dược và không thể cầm cự nổi nữa. Ông đã hy sinh trong tư thế tay vẫn nắm chặt chiếc súng ngắn và cuốn nhật ký chiến trường do chính tay ông viết trong những năm tháng sống và cống hiến cho Tổ quốc tại chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng.
Ông ngã xuống ở tuổi 30, khép lại một thời hoa lửa kiên cường, cháy bỏng vì Tổ quốc, để lại những trang nhật ký được viết bằng chính sự nhiệt huyết và cống hiến của người lính trẻ. Sau này, cuốn Nhật ký Chu Cẩm Phong được đồng đội cất giữ và xuất bản, trở thành một trong những tư liệu quý về cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Hiện nay, ông được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Hội An. Năm 2007, Chu Cẩm Phong được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật trong đợt trao tặng lần thứ hai cho các tác phẩm Mặt biển – Mặt trận (1968), Rét tháng Giêng (1975) và Nhật ký Chu Cẩm Phong (1994). Ba năm sau, vào tháng 3 năm 2010, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Thời hoa lửa của Chu Cẩm Phong là hành trình dâng hiến trọn vẹn sức trẻ, trí tuệ và sự kiên cường giữa lòng chiến trường Quảng Nam rực lửa. Chu Cẩm Phong chính là minh chứng sống động cho một thế hệ thanh niên Việt Nam sẵn sàng dâng hiến tuổi trẻ để viết nên khúc ca tự do và độc lập cho Tổ quốc.



