Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chủ đề: Anh hùng LLVTND Hoàng Văn Thượng – Bản lĩnh đặc công

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Hoàng Văn Thượng, người dân tộc Tày, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1948, tại xóm Bản Giăn, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh và mang trong mình lòng yêu nước sâu sắc. Năm 1968, khi tuổi đôi mươi, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ, mang theo khát vọng góp sức vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Hải Phòng27/03/2026Chi đoàn trường TH Trùng Khánh (Chi đoàn trường TH Trùng Khánh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Hoàng Văn Thượng, người dân tộc Tày, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1948, tại xóm Bản Giăn, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Ông lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh và mang trong mình lòng yêu nước sâu sắc. Năm 1968, khi tuổi đôi mươi, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ, mang theo khát vọng góp sức vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Bối cảnh lịch sử mà ông tham gia chiến đấu là giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với những chiến trường đầy thử thách như Bình - Trị - Thiên, Đông Nam Bộ và cả chiến trường Campuchia. Ông thuộc binh chủng Đặc công, một lực lượng tinh nhuệ, chuyên thực hiện các nhiệm vụ đột nhập, trinh sát, phá hoại trong lòng địch, đòi hỏi sự gan dạ, mưu trí và sức chịu đựng phi thường.

Sau khi trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, Hoàng Văn Thượng trở thành tân binh của Trung đội 4, Đại đội 20, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn Đặc công 305. Ông chăm chỉ rèn luyện và nhanh chóng trở thành một chiến sĩ giỏi. Một số chiến trường mà ông đã tham gia:

- Chiến trường Bình - Trị - Thiên và Campuchia (1968-1970):

Từ cuối năm 1968 đến tháng 12 năm 1970, ông tham gia chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên. Trong một nhiệm vụ đánh chốt An Púp (Campuchia), dù đang sốt rét và sức khoẻ yếu, ông vẫn xin tham gia chiến đấu. Với ý chí thép, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy phân đội đánh chiếm lô cốt đầu cầu. Ông cùng đồng đội đã khéo léo, thận trọng vượt qua hàng rào dây thép gai, dùng cả răng để cắn đứt dây nhỏ, tránh gây tiếng động. Sau khi mở cửa thành công, ông đã điểm hoả phá tan lô cốt, rồi cùng đơn vị đánh chiếm ba nhà của địch. Trong trận này, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mở cửa, đánh tan lô cốt, phá nhà lính và tiêu diệt 29 tên địch, thu giữ một khẩu AR15. Trận đánh thắng lợi, đơn vị được đề nghị tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng ba.

- Chiến trường Miền Đông Nam Bộ (1971 trở đi):

Năm 1971, ông được bổ nhiệm Chính trị viên Đại đội 2, thuộc Sư đoàn Đặc công 429, hoạt động tại Tây Ninh, Bình Dương.

Trận đánh căn cứ Dầu Tiếng: Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và nguy hiểm nhất của ông. Căn cứ Dầu Tiếng là một mắt xích phòng thủ vững chắc của địch bảo vệ Sài Gòn, được trang bị hệ thống hầm ngầm, lô cốt, giao thông hào kiên cố và nhiều lớp dây thép gai. Ông đã trực tiếp trinh sát trận địa trong hai đêm, vượt qua 8 lớp hàng rào dây thép gai để nắm rõ địa hình và lực lượng địch.

Đêm 19 tháng 6 năm 1971, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, 18 chiến sĩ đặc công đã tiếp cận trận địa, tạo cửa mở. Ông cùng một đồng đội luồn sâu, trinh sát. Đúng 1 giờ 30 phút, khi địch đang chuẩn bị cho lễ kỷ niệm, ông lệnh cho anh em tiến thẳng vào khu chỉ huy, cắm cờ giải phóng và tấn công địch. Trận tập kích này đã gây hoang mang tột độ cho Sư đoàn 25 ngụy, tiêu diệt 120 tên địch, phá hoại nhiều phương tiện thông tin. Cá nhân ông đã tiêu diệt 19 tên địch và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.

Sau đó, ông cùng đơn vị tiếp tục tham gia nhiều trận đánh ác liệt khác vào các căn cứ Trảng Lớn, Lai Khê, Bà Đen, Cầu Bến Cát, Bình Long, Phước Vĩnh, gây tổn thất nặng nề cho địch.

- Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975):

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, ông chỉ huy tiểu đoàn đánh chiếm Trung tâm thông tin ngụy suốt ba ngày liền, làm tê liệt hệ thống ra-đa của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Với những cống hiến xuất sắc và lòng quả cảm phi thường, ngày 6 tháng 11 năm 1978, Đại tá Hoàng Văn Thượng vinh dự được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Ông còn được biết đến với những thống kê đáng nể:

- Luồn sâu, khảo sát 131 căn cứ địch.

- Trực tiếp chiến đấu 23 trận lớn nhỏ.

- Tiêu diệt gần 100 tên địch.

- Thu giữ 1 khẩu súng trường Mỹ AR15.

- Được tặng thưởng 12 huân, huy chương các loại.

Sau khi chiến tranh kết thúc, Đại tá Hoàng Văn Thượng tiếp tục phục vụ trong quân đội và có nhiều đóng góp quan trọng cho quê hương Cao Bằng. Ông từng kinh qua các chức vụ quan trọng như:

- Chính trị viên Tiểu đoàn 13, Trung đoàn 429.

- Phó Chủ nhiệm Chính trị E117 (tham gia chiến đấu tại Campuchia).

- Phó Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự huyện Quảng Hòa.

- Phó Chủ nhiệm Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.

- Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.

Ông còn là Tỉnh ủy viên các khóa XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa VIII, XIII; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa IV. Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục giữ vai trò Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Cao Bằng.

Đại tá Hoàng Văn Thượng được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương, bằng khen và các danh hiệu cao quý khác. Ông là tấm gương sáng về phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", giản dị, chân thành, đoàn kết, gắn bó với đồng đội, luôn được Đảng và nhân dân tin yêu.

Câu chuyện về Anh hùng Hoàng Văn Thượng là minh chứng hùng hồn cho tinh thần chiến đấu quả cảm, sự hy sinh thầm lặng và ý chí kiên cường của người lính Việt Nam trong "thời hoa lửa". Ông là nguồn cảm hứng lớn cho thế hệ trẻ hôm nay trong việc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn