Chú Đỗ Văn Rô với ký ức Ổn định tình hình, khôi phục sản xuất, hàn gắn vết thương chiến tranh 1975 - 1976
Thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với cả nước, Nhân dân Mỹ Nhơn bước vào thời kỳ mới, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đất nước hoàn toàn giải phóng, Nhân dân Mỹ Nhơn đã được hưởng hòa bình độc lập và những quyền lợi do chính quyền cách mạng mang lại nên vô cùng phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm đoàn kết xung quanh Đảng, phát huy truyền thống cách mạng để xây dựng cuộc sống mới, chế độ mới. Tuy nhiên, Mỹ Nhơn gặp không ít khó khăn trong buổi đầu xây dựng xã hội mới sau khi đất nước được hòa bình thống nhất.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Mỹ Nhơn là nơi tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch; sau giải phóng đất đai ở Mỹ Nhơn còn nhiều bãi mìn, lựu đạn và hai hố bom ở đìa cốc…. Cơ sở hạ tầng thấp kém, không có chợ, Nhân dân tự tụ họp trao đổi, mua bán, hình thành nên các chợ “chồm hổm”. Trường học được địch xây dựng từ những năm 1960, cơ sở còn nhỏ hẹp, chỉ có 9 phòng nên chưa đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân trong xã; mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh nên các phòng học bị xuống cấp trầm trọng. Các tuyến đường trong xã chủ yếu là đường đất, đường mòn nhỏ hẹp, lầy lội, không đảm bảo cho vận chuyển và đi lại, nhất là vào mùa mưa. Do hệ thống cầu đường như thế nên các phương tiện giao thông, vận tải bằng xe cơ giới hầu như không có, ảnh hưởng không nhỏ đến việc đi lại và lưu thông hàng hoá của Nhân dân trong xã cũng như sự tiếp xúc giữa Mỹ Nhơn với các địa phương khác trong huyện.
Đất đai phần lớn là bưng sâu trũng, nhiễm phèn, mặn; trên 50% diện tích đất bị khai hoang, bạc màu nên năng suất thấp (khoảng 13 tạ/ha/năm), đời sống Nhân dân còn nhiều khó khăn. Trong thời kỳ địch đẩy mạnh bình định (từ năm 1969), một bộ phận Nhân dân đi tản cư nơi khác sinh sống, nay họ trở về quê cũ nhưng thiếu tư liệu sản xuất, chỗ ở chưa ổn định, đa số họ không có việc làm.
Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Quân quản tỉnh, chi bộ đã thành lập Ban Quản huấn xã gồm các đồng chí: Trần Văn Cửng (Trần Ngôn), Lê Quang Hoài, Nguyễn Hồng Tâm; đồng chí Trần Ngôn được cử làm Trưởng ban. Nhiệm vụ trước mắt của Ban Quản huấn là tiếp tục truy quét tàn quân ngụy còn lẩn trốn, trấn áp lực lượng phản cách mạng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tiếp quản và điều hành cơ sở kinh tế – xã hội.
Ban Quản huấn đã kêu gọi toàn bộ sĩ quan, binh lính, tề xã, tề ấp đến trình diện, có 247 người đã ra trình diện. Sau khi phân loại, ta đã giao về trên quản lý 194 người thuộc diện sĩ quan, hạ sĩ quan. Số còn lại quản huấn tại xã là binh lính, những cựu quân nhân của ngụy, số nhân viên nguỵ quyền. Ban Quản huấn đã tập trung và tổ chức giáo dục, cải tạo cho 153 người. Sau 30 ngày học tập, ta đã trả lại quyền công dân cho họ, trở về cùng gia đình xây dựng cuộc sống mới. Đồng thời, Ban Quản huấn còn phối hợp với Ban An ninh xã tổ chức truy quét những tên ác ôn, ngoan cố không chịu ra trình diện với chính quyền cách mạng, thu các loại vũ khí do bọn chúng tàng trữ. Nhờ đó mà vấn đề an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, mọi sinh hoạt của Nhân dân nhanh chóng trở lại bình thường.
Tháng 9/1975, chấp hành chủ trương của Nhà nước, xã tiến hành thu đổi tiền ngụy quyền Sài Gòn, lấy tiền của cách mạng lưu hành trong Nhân dân.
Đầu năm 1976, theo sự chỉ đạo của Trung ương, Ban Quản huấn giải thể, Ủy ban Nhân dân cách mạng xã được bầu ra đảm nhận chức năng điều hành và quản lý xã hội.
- Chủ tịch xã: đồng chí Nguyễn Văn Gia (Ba Trung)
- Trưởng Công an xã: đồng chí Ngô Văn Bảnh
- Xã đội trưởng: đồng chí Trần Văn Bực.
- Thư ký Ủy ban: đồng chí Trần Văn Mẫn.
Mặt trận và các đoàn thể được củng cố. Xã có 4 ấp, mỗi ấp đều có ban cán sự ấp và ban chấp hành các đoàn thể.
Chi bộ và chính quyền đã tổ chức cho Nhân dân học tập ý nghĩa thắng lợi của cách mạng và kêu gọi Nhân dân đoàn kết bảo vệ thành quả cách mạng, cảnh giác trước mọi âm mưu của các thế lực thù địch chống phá cách mạng.
Để cải thiện đời sống Nhân dân, chính quyền cách mạng phát động phong trào tăng gia sản xuất, tiến hành khai hoang, phục hoá những vùng đất bị bỏ hoang trước đây để mở rộng diện tích đất canh tác lúa. Công tác thủy lợi được chú trọng, huyện đã tổ chức, tập hợp lực lượng một số xã ở Ba Tri đào kênh 9A nối liền từ xã Bình Thành (huyện Giồng Trôm) đến xã Phú Ngãi (huyện Ba Tri). Sau khi kênh 9A hoàn thành, Nhân dân Mỹ Nhơn đã đào mới hai tuyến kênh sườn đông, sườn tây dài 6.000m và hệ thống kênh tiêu và vuông (phía đông), kênh Thừa tướng (phía tây). Các tuyến kênh này là hệ thống giao thông thủy thuận lợi vừa cung cấp nước sinh hoạt cho Nhân dân, vừa phục vụ tưới tiêu và thau chua rửa phèn trên 300 ha đất sản xuất nông nghiệp của Mỹ Nhơn. Nhờ các tuyến kênh này, Nhân dân đã thâm canh tăng vụ, chuyển từ sản xuất một vụ năng suất thấp sang sản xuất hai vụ trên diện tích 100 ha, năng suất đạt 25 tạ/ha, tăng gấp hai lần so với trước kia. Bên cạnh trồng lúa, Nhân dân còn trồng rau màu trên giồng cát, dọc các bờ kênh, đất bìa chéo…. và đẩy mạnh chăn nuôi, đời sống của Nhân dân từng bước được ổn định và cải thiện.
Ban giáo dục xã Mỹ Nhơn do thầy Khê phụ trách, đã cho mở cửa hai điểm trường tiểu học trong xã để đón học sinh bước vào năm học mới, năm học đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất. Lúc bấy giờ, ở Mỹ Nhơn chỉ có trường cấp I, học sinh muốn học lên cấp II phải sang trường trung học tỉnh hạt Ba Mỹ (cơ sở đặt tại xã Mỹ Chánh), học sinh cấp III sang thị trấn Ba Tri hoặc đến thị xã Bến Tre để học. Phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ, được phát động, thu hút đông đảo Nhân dân trong xã tham gia. Chính quyền cách mạng còn kết hợp với các đoàn thể tiến hành truy quét văn hoá phẩm đồi trụy; bài trừ mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội. Đội văn công của xã Mỹ Nhơn được thành lập do đồng chí Phạm Văn Trước làm Trưởng đoàn, thường xuyên biểu diễn, phục vụ các đợt tuyển quân, làm thủy lợi, các ngày lễ lớn và góp phần tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, lối sống mới trong Nhân dân.
Ban y tế xã do đồng chí Năm Thanh phụ trách, tận dụng cơ sở của địch (trạm cứu thương của phân chi khu Mỹ Nhơn) để làm nơi khám chữa bệnh cho Nhân dân. Tuy khả năng chuyên môn còn hạn chế nhưng sự cố gắng và nhiệt tình của đội ngũ cán bộ y tế đã đáp ứng phần nào nhu cầu khám chữa bệnh cho Nhân dân địa phương.
Sau giải phóng, Ủy ban Nhân dân Mỹ Nhơn sử dụng khu hành chính cũ của địch làm trụ sở tạm thời để tiếp dân, điều hành mọi hoạt động của xã.
Ngày 25/4/1976, gần 100% cử tri Mỹ Nhơn đã đi bầu cử đại biểu của mình vào Quốc hội chung của cả nước. Nhân dân đã bầu chọn được 9 đại biểu: Phan Thị Hồng Châu, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định, Trương Thanh Hoàng, Đặng Thị Mãnh, Trịnh Văn Nở, Nguyễn Văn Ngợi, Nguyễn Thành Phát, Võ Văn Phẩm. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1976, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất với 492 đại biểu, được gọi là Quốc hội khoá VI với ý nghĩa kế tục sự nghiệp của năm khoá Quốc hội trước kể từ cách mạng tháng Tám, đã họp tại Hà Nội. Quốc hội đổi tên nước là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ ngày 02/7/1976. Sự kiện này đánh dấu nước ta hoàn toàn thống nhất về mặt Nhà nước, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đến cuối năm 1976, các hoạt động sản xuất và đời sống Nhân dân đã được ổn định, an ninh trật tự xã hội được giữ vững, tạo điều kiện để Nhân dân Mỹ Nhơn tiếp tục xây dựng cuộc sống mới.



