Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chu Huy Mân- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Chu Huy Mân- Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Phú Thọ26/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông tên thật là Chu Văn Điều, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1913[5] tại xã Yên Lưu, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên[6] (nay thuộc phường Trường Vinh), tỉnh Nghệ An.[7]

Sự nghiệp

Ông tham gia cách mạng từ năm 1929, kết nạp vào Đảng năm 1930.[7][8] Trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, ông tham gia đội Tự vệ đỏ và là đội phó đội tự vệ xã,[7] sau đó làm Bí thư chi bộ xã (năm 1933), Bí thư phân Huyện ủy huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (năm 1936).[5]

Tháng 5 năm 1935, ông đổi tên là Chu Huy Mân.[6] Ngoài ra, ông còn có một số bí danh như Vũ Chân,[4] Lê Thế Mỹ,[9] Trần Thanh Lạc,[10] Hai Mạnh.[11]

Từ 1937 đến năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần ở nhà lao Vinh, đến năm 1940 đưa đi giam ở Đắc Lay rồi Đắc Tô, Kon Tum.[5] Năm 1943, ông vượt ngục, tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia Ban Việt Minh tỉnh và Tỉnh ủy Quảng Nam, sau đó làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam.[7][5]

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, ông vào quân đội[7] và lần lượt giữ các chức vụ: Chính trị viên Tỉnh đội Quảng Nam; sau đó làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính 4 tỉnh Trung Bộ, Trưởng ban Kiểm tra Đảng, Ủy viên Quân khu Việt Bắc.[5]

Từ năm 1947 đến năm 1949 là Trung đoàn trưởng, Bí thư Trung đoàn ủy các Trung đoàn 72, Trung đoàn 74 Cao Bằng và Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng.[8]

Tháng 5-1951, ông làm Phó Chính ủy, sau đó làm Chính ủy Đại đoàn 316, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 316, tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.[5]

Tháng 8-1954, là Đoàn trưởng Bí thư Đảng ủy Đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào.[6][8]

Năm 1957, ông giữ chức Chính ủy Quân khu IV; 4/1958 là Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc.[12]

Thượng tướng Chu Huy Mân

Năm 1961 ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 4.[5][8]

Tháng 8-1965, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận B3 - Tây Nguyên.[5][8]

Từ năm 1967 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 5, Phó bí thư Đảng ủy Quân khu, Chính ủy chiến dịch Huế- Đà Nẵng.[13][6]

Từ 1975 đến 1976, ông là Chính uỷ, kiêm Tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Quân khu 5.[6]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương,[14] Trưởng ban Kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (1977-1986), phụ trách công tác giúp Cách mạng Lào, Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc (năm 1980).[5]

Ông là Đại biểu Quốc hội khoá II, VI, VII, được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III, IV, V, Ủy viên Bộ Chính trị khoá IV, V.[6]

Sau Đại hội VI, ông nghỉ hưu theo chế độ.[5]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký quyết định số 401KT/CT trao tặng Huân chương Sao Vàng cho Đại tướng Chu Huy Mân vì những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.[15]

Đại tướng Chu Huy Mân qua đời ngày 1 tháng 7 năm 2006 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.[5]

Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn