Chú Huỳnh Ngọc Trần và ký ức Chống kế hoạch bình định của địch sau xuân Mậu Thân 1968
Bị thất bại trong chiến tranh cục bộ, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh bằng các biện pháp: bình định nông thôn, ổn định ngụy quyền, vơ vét cướp bóc, đánh phá vùng giải phóng, cắt đứt các nguồn tiếp tế cho cách mạng.
Trong những năm 1969 - 1971, giữa ta và địch diễn ra hình thức bình định lấn chiếm và chống bình định lấn chiếm nông thôn. Với lực lượng đông, địch thực hiện chiến lược giữ và quét, lực lượng chủ yếu là sư đoàn 7, sư đoàn 9 liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét vào Mỹ Nhơn. Khi càn vào đây, địch tổ chức đóng chốt dài ngày, chà đi xát lại vùng căn cứ kháng chiến, gom dân các nơi đến phá căn cứ Lạc địa và dùng máy bay trực thăng đổ quân càn quét khu căn cứ lõm, đóng đồn bót ở Lạc địa. Tại Mỹ Nhơn, từ cuối 1969 trở đi, địch đẩy mạnh phát quang địa hình, đóng thêm các đồn bót, cứ 500m có một đồn, đến cuối năm 1970 trên địa bàn xã có 6 đồn bót và 1 phân chi khu. Trong năm 1970, địch cho xây dựng khu hành chính xã, đưa tên Lê Quang Nhưng (người của ta cài vào nhưng phản bội) lên làm Xã trưởng. Chúng đẩy mạnh bắt lính, đôn quân, phát triển lực lượng dân vệ, đồn dân vệ lên bảo an, lập một cuộc cảnh sát, hai trung đội dân vệ, 4 đội phòng vệ dân sự (mỗi ấp một đội), thường xuyên tổ chức phục kích vào ban đêm trên những tuyến đường mà chúng nghi cán bộ ta thường đi lại, càn quét liên tục vào vùng căn cứ,... Mặt khác, địch tăng cường chiến tranh tâm lý, dụ hàng, mua chuộc, hăm doạ, khủng bố, cưỡng bức gia đình cách mạng kêu gọi người thân về “hồi chánh quốc gia”. Có thể nói, đây là thời kỳ Mỹ - ngụy đánh phá ác liệt thông qua kế hoạch “bình định cấp tốc”, “bình định đặc biệt”, gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất. Từ sau xuân Mậu Thân do ta chủ quan, chưa lường hết âm mưu của địch sẽ quay lại phản kích lấn chiếm bình định nên không kịp thời chủ động đối phó. Vì thế khi địch càn quét đánh phá, lực lượng ta bị tiêu hao nhiều. Cán bộ và du kích chạy giạt ra đồng, bám các mô đìa, ban đêm lần về xã ấp hoạt động; những người lớn tuổi, sức khoẻ yếu và thương binh thì sang Thạnh Phú tạm lánh. Tinh thần của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, quần chúng hoang mang dao động, sa sút ý chí. Tuy nhiên, có những đồng chí khi bị sa vào tay giặc vẫn giữ được khí tiết của người cộng sản, là tấm gương cho nhiều thế hệ. Đồng chí Lê Quang Ba (Ba Phương) và đồng chí Ba Trung đi từ căn cứ Cu đinh về Mỹ Nhơn, khi đến đầu giồng thì đụng đầu bọn biệt kích. Đồng chí Ba Trung chạy thoát, đồng chí Ba Phương đánh xáp lá cà với địch và bị địch bắt sống khi đồng chí đã bị thương. Địch dùng mọi biện pháp từ dụ dỗ mua chuộc đến đánh đập khảo tra nhưng không có kết quả, không nhận được lời khai báo nào mà chỉ nghe những lời chửi mắng của đồng chí. Địch đưa gia đình đến để khuyên đồng chí Ba Phương: nếu đầu hàng thì sẽ được cứu sống. Cha của đồng chí Ba Phương mang võng lại, khuyên đồng chí lên võng để gia đình khiêng đi bệnh viện chữa trị vết thương nhưng đồng chí không lên võng mà trả lời với cha: lên võng tức là đầu hàng địch. Đồng chí xin lỗi cha, dặn dò vợ, khuyên các con nên nối tiếp con đường của cha để giải phóng quê hương, nhìn cha lần cuối rồi tự tay bứt ruột của mình ném ra ngoài. Đồng chí Ba Phương đã anh dũng hy sinh. Địch không cho gia đình tổ chức tang lễ và chôn cất đồng chí theo phong tục tập quán của dân tộc. Em trai của đồng chí Ba Phương là lính dân vệ ở xã đã xin phép chính quyền địch để làm đám tang cho đồng chí nhưng địch chỉ cho tẩn liệm thi hài đồng chí mà không được làm đám tang, không được chôn cất đồng chí trong khu nghĩa địa của làng mà buộc gia đình đem thi hài đồng chí về chôn ở cạnh nhà. Hành động dũng cảm của đồng chí Ba Phương đã được thanh niên nhiều nơi tổ chức học tập và nêu gương.
Hội nghị Trung ương Cục miền Nam vào tháng 7/1969 đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng nhất là phải giành đất, giành dân, phát triển thế và lực của ta. Thực hiện sự chỉ đạo trên, quân dân Mỹ Nhơn đã kiên trì bám đất, bám dân, đánh địch bằng ba mũi giáp công, giữ vùng giải phóng, củng cố và phát triển cơ sở cách mạng. Những vùng do ta làm chủ thì xây dựng ấp chiến đấu, vận động Nhân dân làm hầm chông, bãi chông, gài lựu đạn, mìn,... đồng thời đẩy mạnh công tác binh vận.
Sau khi nhận được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Huyện ủy tổ chức lễ truy điệu trọng thể tại rạch Vọp và phân công cán bộ huyện, xã bám trong dân tập hợp quần chúng làm lễ truy điệu Hồ Chủ tịch. Tháng 10/1969, bất chấp sự đe doạ, bắt bớ giam cầm của địch, chi bộ và Nhân dân Mỹ Nhơn đã tổ chức lễ truy điệu và tham gia học tập lời di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân dân Mỹ Nhơn đã nêu quyết tâm: biến đau thương thành hành động cách mạng, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, hoạt động vũ trang chống phá kế hoạch bình định của địch.
Quân, dân Mỹ Nhơn đã sống và chiến đấu trong điều kiện khó khăn gian khổ, chặn được kế hoạch bình định của địch nhưng nhìn chung các căn cứ lõm của xã vẫn bị địch thường xuyên đánh phá. Dân tản cư vào vùng địch, ta bị mất đất, mất dân, vùng giải phóng không ổn định, đời sống của cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân ta gặp nhiều khó khăn. Địch tổ chức càn quét thường xuyên, liên tục, cán bộ của ta bị tiêu hao nhiều.
Mặc dù địch bình định ác liệt, bị kìm kẹp nhưng Nhân dân Mỹ Nhơn vẫn làm tốt nghĩa vụ của mình. Các đồng chí cán bộ tài chính của xã, ấp đã vận động Nhân dân đóng đảm phụ đầy đủ, mỗi nhà có hũ gạo nuôi quân, Nhân dân đóng góp lương thực, tài chính ủng hộ không chỉ ở địa phương mà còn hỗ trợ cho các địa phương khác trong huyện, tỉnh.
Phong trào du kích chiến tranh tiếp tục phát triển và lập thành tích mới, tháng 3/1970, du kích xã kết hợp với địa phương quân huyện luồn sâu vào vùng địch phục kích diệt Xã trưởng Lê Quang Nhưng và một số lính dân vệ khác đang trên đường đi tuần tra. Sau khi Xã trưởng Nhưng chết, địch đưa Lê Quang Khoe lên làm Xã trưởng Mỹ Nhơn cho đến ngày xã hoàn toàn giải phóng 1/5/1975.
Năm 1970, đồng chí Lê Quang Nho chuyển địa bàn công tác, Huyện ủy chỉ định đồng chí Dương Văn Nhữ làm Bí thư chi bộ. Lúc này ở Mỹ Nhơn có 23 đảng viên. Chi bộ tiến hành củng cố lại lực lượng, lãnh đạo Nhân dân chống địch phát quang địa hình, giữ vững địa bàn.
Tháng 5/1970, Tỉnh ủy mở đợt hoạt động mới lấy tên là “chiến dịch ABC”, lấy Ba Tri làm điểm. Tiểu đoàn 516 và tiểu đoàn 7 cùng với địa phương quân huyện đứng chân tại Ba Mỹ, tổ chức diệt đồn Mỹ Chánh, địch điều quân yểm trợ nên ta rút về Châu Bình, rạch Vọp để bảo toàn lực lượng nhưng bị địch phát hiện và truy đuổi ráo riết, lực lượng ta bị tiêu hao, tổn thất.
Sau 4 năm địch đẩy mạnh bình định, ta bị mất đất, mất dân, thế của ta bị giảm sút nghiêm trọng. Địch sử dụng quân chủ lực, bảo an tập trung đánh vào vùng giải phóng, quyết tâm lấn chiếm các vùng giải phóng còn lại của ta. Ban tề xã do Lê Quang Khoẻ làm xã trưởng. Địch tăng cường bắt lính, ép công dân nam từ 15 đến 17 tuổi phải vào phòng vệ dân sự; tăng cường chiến tranh tâm lý, đẩy mạnh chiêu hồi, dụ hàng, tập trung lực lượng bình định nông thôn[1]. Những việc làm của chúng làm cho ta bị tổn thất nặng nề, nhiều cán bộ đảng viên hy sinh, lớp bị bắt bị tù đày; cơ sở quần chúng bị vỡ, xáo trộn. Nhiều người dao động sa ngã, dẫn địch về lùng bắt cán bộ cách mạng, càn quét căn cứ, phong trào đấu tranh của Nhân dân Mỹ Nhơn trải qua thời kỳ khó khăn mới.
Trước tình hình trên, nhiều đồng chí bị lộ phải điều lắng, chuyển vùng hoạt động, những cán bộ trẻ chưa bị lộ tiếp tục bám dân hoạt động. Sau khi đồng chí Dương Văn Nhữ hy sinh, Huyện ủy chỉ định đồng chí Ngô Văn Ngon (Năm Bình) làm Bí thư chi bộ xã. Thực hiện phương châm “ba bám”, chi bộ đã chia nhỏ lực lượng, mỗi ấp thành lập một tổ đảng, mỗi tổ có 1 đến 2 đảng viên bám sát quần chúng, đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, củng cố xây dựng lực lượng cơ sở. Nhờ sự tố giác của quần chúng, ta đã bắt và diệt một tên chiêu hồi và ba do thám nguy hiểm ở địa phương góp phần giữ vững trật tự trị an, bảo vệ an toàn cho cán bộ đảng viên.
Đội du kích xã được củng cố, được trang bị khá đầy đủ bằng các loại vũ khí thu được của địch, do đồng chí Ngô Văn Ngon - Bí thư chi bộ kiêm Xã đội chánh. Cuối năm 1971, các chiến sĩ phối hợp với đặc công tỉnh đánh vào phân chi khu nhưng không thành công, phía ta hy sinh 3 chiến sĩ.
Thời gian này, công tác binh vận được đẩy mạnh và đem lại nhiều kết quả; hiện tượng phản chiến, đào ngũ, rã ngũ diễn ra trong các lực lượng bảo an, dân vệ. Nhiều chiến sĩ dân vệ như Nguyễn Văn Nặng lính trong Đồn Bưng, cơ sở nội tuyến do đồng chí Lê Thị Cám (Chín Tươi) tổ chức đã gởi đạn dược cho vợ mang về giao lại cho đồng chíChín Tươi rồi chuyển cho đồng chí Nguyễn Văn My (Hai My) và Dương Văn Công (Tám Bắp) giao cho lực lượng du kích; Sáu Nghễ tìm cách chuyển đạn dược, vũ khí cho gia đình, thông qua cơ sở chuyển lại cho du kích; bà Phạm Thị Ba, Nguyễn Thị Năm là vợ của các đồn trưởng đã ủng hộ lương thực, thuốc trị bệnh, chuyển vũ khí ra căn cứ cho du kích. Ông Phạm Văn Chúc, là một tiểu thương, có cháu tham gia ngụy quyền nhưng ông vẫn thường xuyên ủng hộ thực phẩm, thuốc men cho cán bộ đảng viên du kích đến ngày quê hương được giải phóng.
Mặc dù ta bị mất đất, mất dân nhưng nhìn chung địch không kìm kẹp được Nhân dân như những thời kỳ chiếm đóng trước đây. Đồn bót dày đặc, phạm vi chiếm đóng của địch mở rộng nhưng lực lượng của chúng bị phân tán mỏng, bị động đối phó nhiều nơi. Trước tình hình trên, thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy, chi bộ tiến hành sắp xếp lại tổ chức cho phù hợp với tình hình mới và xác định: xây dựng cơ sở, giữ vững phong trào đấu tranh chống bình định là vấn đề trọng tâm của cán bộ đảng viên và lực lượng vũ trang ở địa phương.
Cán bộ đảng viên được xếp thành hai bộ phận: lộ và không lộ, hoạt động theo phương châm “một nhiệm vụ, hai lực lượng, hai phương thức”. Những cán bộ già yếu, bệnh tật, không có điều kiện bám địa phương được chuyển ra khỏi những vùng địch đánh phá ác liệt để bảo toàn lực lượng. Số quần chúng còn lại thì chuyển ra đồng để tránh bom pháo của địch. Tuy khó khăn, gian khổ nhưng cán bộ đảng viên, du kích, quần chúng Nhân dân đều lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi ngày mai.
Thực hiện chỉ thị 13/CT của Trung ương Cục và chỉ đạo của Huyện ủy, chi bộ tiến hành tập trung lực lượng, tích cực chuẩn bị chiến dịch chống phá bình định của địch.
Sang năm 1972, phong trào cách mạng ở Mỹ Nhơn dần dần phục hồi và phát triển, Nhân dân tự vũ trang diệt ác, phá kiềm, giải tán phòng vệ dân sự, xây dựng cơ sở trong đồn bót.
Chấp hành chỉ thị của Quân khu và Tỉnh ủy, tháng 5/1972, Tỉnh đội điều một tiểu đoàn đến Ba Tri phối hợp với du kích xã và địa phương quân huyện mở chiến dịch “Rạng đông”, quyết tâm mở mảng vùng Ba Mỹ. Ngày 11/5/1972, lực lượng vũ trang tỉnh đã đến đứng chân tại Ba Mỹ. Quần chúng Mỹ Nhơn kết hợp với du kích vây ngặt đồn chính, giải tán lực lượng phòng vệ dân sự. Do tương quan lực lượng, chiến dịch “Rạng đông” kết thúc nhưng kế hoạch mở vùng của ta không đạt yêu cầu, địa phương quân huyện cùng du kích xã tiếp tục bám địa bàn, chủ yếu chống càn quét để mở rộng địa bàn đứng chân.
Đêm 26/01/1973, ta đưa lực lượng vào cắm cờ Mặt trận dọc tuyến đường chính, do bị lọt vào điểm phục kích của địch, đồng chí Hồ Văn Ro và đồng chí Lê Quang Nho hy sinh trên đường rút lui.
Những hoạt động của quân dân Mỹ Nhơn tuy không có những chiến công xuất sắc nhưng đã góp phần cùng cả nước tạo nên thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari về Việt Nam ngày 27/1/1973, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
[1] năm 1971, xã có 3 ấp loại A (tức ấp mạnh gồm Nhơn Phú, Nhơn Thuận, Nhơn Quới), 1 ấp loại B (tức ấp tranh chấp Nhơn Hòa), địch có 2 đồn 2 tua. Ta có 26 đảng viên, 7 đoàn viên, du kích xã 8, du kích ấp 3, du kích mật 3, dân quân 10, tổ vũ khí 2, đặc công 1



