Người có công giúp đỡ cách mạng

Chủ nhân đôi dép săm-pô rỗng đế

Cần Thơ23/12/2025Nguyễn Khánh Đăng (Nguyễn Khánh Đăng - Xã Cờ Đỏ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chủ nhân đôi dép săm-pô rỗng đế

Với hơn 25 năm gắn bó với Bảo tàng Binh chủng Thông tin liên lạc, đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc trong quá trình công tác của mình, trong những kỷ niệm ấy, là vào tháng 9/2005, tôi dẫn đoàn Cựu chiến binh tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tham quan phần trưng bày chuyên đề Bộ đội Thông tin liên lạc góp phần tham gia đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và Chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của đế quốc Mỹ (1969-1973).

Khi tôi giới thiệu đến đôi dép săm-pô rỗng đế, tôi chợt chú ý đến một phụ nữ khoảng hơn 50 tuổi với nét mặt đầy xúc động, ánh mắt chị như bị hút vào đôi dép. Đoàn khách tham quan xong, mọi người đã tản ra, tôi vẫn thấy chị im lặng đứng đó… chợt thấy chị quay lại, đôi mắt đỏ hoe, tôi giật mình, khuôn mặt ấy nhìn quen quá, nhất định tôi đã gặp ở đâu đó. Hơi tò mò, tôi tiến lại định hỏi chuyện thì một chị trong đoàn níu tay tôi lại, nói khẽ: “Thôi đừng, để bà ấy đứng đấy thêm chút nữa”.

Tôi cố lục trong trí nhớ… Thôi đúng rồi! Chị Hồ Thị Vân, người nữ giao liên mưu trí quả cảm năm xưa, chị chính là chủ nhân đôi dép Sam-pô rỗng đế mà tôi vừa giới thiệu.

Tự hào về truyền thống gia đình

Đồng chí Hồ Thị Vân sinh năm 1952, trong một gia đình cách mạng tại Thôn Ba, xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mỗi khi nhắc về gia đình, đồng chí Vân luôn tự hào về người cha là liệt sĩ, cha của đồng chí là Hồ Văn Quang tham gia cách mạng năm 1945, năm 1954, ông ra tập kết miền Bắc, năm 1960 trở vào Nam thuộc Sư đoàn 2, Quân khu 5, năm 1969, ông chiến đấu và hy sinh anh dũng tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Mẹ của đồng chí là Hồ Thị Bút tham gia cách mạng, bị địch bắt năm 1971. Mặc dù bị tra tấn dã man nhưng bà Bút cũng không khai, địch không lấy được khẩu cung nên đã giải bà đi các nhà giam trong tỉnh và sang cả nhà giam ở Sài Gòn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm 1975, bà được trở về quê hương.

Đồng chí Hồ Văn Tuấn là em trai đồng chí Vân, tham gia cách mạng năm 1971 và làm du kích xã Điện Tiến. Đến năm 1972, anh đã chiến đấu và hy sinh tại chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng.

Hành trình đến với cách mạng

Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, bố mẹ đều tham gia kháng chiến từ những ngày đầu chống thực dân Pháp nên đồng chí Hồ Thị Vân được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Năm 1968, khi mới tròn 16 tuổi đồng chí đã xung phong nhập ngũ, vào đơn vị Thông tin vận động, Đại đội 3, Tiểu đoàn 26 (do đồng chí Viên là Tiểu đoàn trưởng) thuộc tỉnh đội Quang Nam - Đà Nẵng. Đồng chí được cấp trên cử ở lại cùng một tổ với các đồng chí như: Huỳnh Thị Em, Phạm Thị Thi, Trần Thị Bảy, Huỳnh Chi … để hoạt động hợp pháp trong lòng địch ở nội thành Đà Nẵng.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, Mỹ - Ngụy điên cuồng chống phá cách mạng, mở ra các cuộc càn quét đẫm máu, đồng thời xiết chặt vòng vây, khủng bố trắng, nghiêm cấm đồng bào ta đi lại vào ban đêm… Đồng chí Vân cùng các đồng chí trong tổ nhận nhiệm vụ chuyển công văn và tài liệu từ trên chiến khu xuống các cơ sở trong nội thành như: Khu 2, Khu 3 thuộc Quận 3 - Đà Nẵng và đến vùng H7 Biện Sơn, vùng H5 Điện Nam…

Trong khi đi làm nhiệm vụ, đồng chí Hồ Thị Vân luôn dũng cảm, mưu trí, đồng chí dùng nhiều hình thức dấu công văn tài liệu qua các trạm kiểm soát của địch, nhất là trạm kiểm soát Cầu Điện Vĩnh, xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn và trạm kiểm soát ra ngoài thành phố. Đồng chí phải đóng giả người bán hàng rong, bán bánh mỳ, bán sắn, bán khoai để dấu công văn, tài liệu vào trong những chiếc bánh mỳ, củ khoai, củ sắn, thậm chí vào trong kẽ chiếc đòn gánh chắp thêm đoạn giữa để tránh bị địch phát hiện. Đặc biệt “trong vai” nữ sinh thành phố cắp sách đi học với chiếc áo dài trắng và đôi dép Sam-pô đắt tiền (đã khoét rỗng đế, bên trong nhét đầy tài liệu) nhiều lần đồng chí ung dung qua mặt những cặp mắt cú vọ của bọn cảnh sát Ngụy...

Đồng chí Vân đã hoạt động cách mạng hợp pháp trong lòng địch tại thành phố Đà Nẵng suốt hơn 3 năm mà địch không phát hiện, đồng chí luôn bảo đảm an toàn công văn tài liệu và chuyển đến cho các cơ sở đúng thời gian quy định. Đến năm 1971, mẹ đồng chí bị bắt, đồng chí lên chiến khu công tác và đi học trường đào tạo y tá của tỉnh đội Quảng Nam - Đà Nẵng. Năm 1974, đồng chí là y tá phục vụ tại Trung đoàn 96 tỉnh đội. Đến tháng 3/1975, đồng chí đã cùng Trung đoàn 96 xuống giải phóng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Tháng 3/1976, đồng chí chuyển ngành làm y tá công ty vật tư tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Trong những năm tháng hoạt động cách mạng đồng chí Hồ Thị Vân đã vinh dự được tặng thưởng 1 huân chương Chiến công hạng Ba, 3 huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 7 lần được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ quyết thắng”… Năm 1973, đồng chí được vinh dự kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tôi lặng lẽ đi bên chị. Bằng giọng nói nhỏ nhẹ, chị kể thêm cho tôi nghe những nỗi mất mát, đớn đau của quê hương chị, nơi đầu tiên thực dân Pháp đặt chân xâm lược, cũng là nơi đầu tiên quân viễn chinh Mỹ đổ bộ vào nước ta, những cảnh chết chóc, những vành đai trắng mang tính hủy diệt mà chúng tạo ra, những cơ cực của bà con ta trong vùng bị dồn dân, lập ấp, những nơi bị kẻ thù giải chất độc hóa học tàn khốc… chính những tội ác dã man đó đã dấy lên lòng căm thù sâu sắc, chị vượt qua bao đau thương thử thách và cả nỗi sợ hãi để đi theo cách mạng khi tuổi đời còn rất trẻ. Chị tâm sự: “Dù đi bất cứ đâu và làm gì, những kỉ niệm của một thời là Bộ đội Thông tin vẫn không phai mờ trong chị. Thăm bảo tàng, nhìn những kỷ vật thân thương, kí ức năm xưa lại trở về, cố kìm nén mà sao không cầm được nước mắt…”.

Chị chia tay tôi bằng một nụ cười đôn hậu. Trong nắng gió mùa thu, ánh mắt nụ cười của chị sáng lên, trẻ trung như thủa chị 16 tuổi.

Hiện nay bức ảnh chân dung và đôi dép săm-pô của đồng chí Hồ Thị Vân được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Binh chủng Thông tin liên lạc, là minh chứng của sự mưu trí, sáng tạo cho hình ảnh người chiến sĩ Thông tin mưu trí, dũng cảm, với những tình huống xử trí mà kẻ thù không ngờ tới. Thế hệ chúng tôi hôm nay luôn khâm phục, cảm ơn chị, cảm ơn những con người đã vượt qua bao đau thương, mất mát, anh dũng chiến đấu xây đắp lên truyền thống Anh hùng của dân tộc nói chung, Bộ đội Thông tin nói riêng. Các thế hệ cha anh mãi là tấm gương sáng cho lớp trẻ chúng tôi hôm nay học tập, noi theo.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn