Bài viết

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và Khát vọng Độc lập

16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đất nước Việt Nam chìm trong đêm tối của ách đô hộ thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước từ lập trường cần vương đến xu hướng tư sản nối tiếp nhau dấy lên nhưng đều lần lượt thất bại trong máu và nước mắt. Giữa bối cảnh lịch sử bế tắc ấy, tại vùng đất Nam Đàn, Nghệ An, một người thanh niên trẻ tuổi với lòng yêu nước nồng nàn đã đau đáu một quyết tâm: tìm ra một con đường mới để cứu dân, cứu nước. Người thanh niên ấy mang tên Nguyễn Tất Thành, người mà sau này cả thế giới biết đến với tên gọi kính yêu – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, tận mắt chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, đồng bào bị đày đọa dưới gông cùm thực dân, Nguyễn Tất Thành đã sớm nung nấu ý chí giải phóng dân tộc. Không lặp lại con đường của các bậc tiền bối đi trước sang phương Đông như Nhật Bản hay Trung Quốc, chàng thanh niên 21 tuổi đã đưa ra một quyết định táo bạo: hướng sang phương Tây, đến chính nước Pháp và các cường quốc châu Âu để tìm hiểu bản chất của sự giàu mạnh, văn minh của họ, xem họ làm thế nào rồi sẽ trở về giúp đỡ đồng bào mình.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại Bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Nguyễn Tất Thành với cái tên mới là Văn Ba, đã bước chân lên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville để làm phụ bếp. Hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển chính thức bắt đầu từ đó. Với hai bàn tay trắng và một ý chí sắt đá, Người đã đi qua nhiều đại dương, đặt chân lên nhiều quốc gia từ châu Á, châu Âu, châu Phi cho đến châu Mỹ. Người chấp nhận làm đủ mọi nghề cực nhọc để kiêm sống và học tập: từ quét tuyết, đốt lò, bồi bàn, đến thợ ảnh, viết báo.

Ở mỗi nơi đi qua, từ những khu ổ chuột của người da đen đến những xóm lao động nghèo, Người nhận ra một sự thật phổ quát: ở đâu chủ nghĩa thực dân, đế quốc cũng tàn bạo, và ở đâu những người lao động nghèo khổ cũng là nạn nhân bị áp bức. Từ đó, tình yêu quê hương trong Người đã hòa quyện với lòng trắc ẩn sâu sắc dành cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Năm 1919, Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị Versailles để phân chia lại thế giới. Thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất Thành dưới tên gọi Nguyễn Ái Quốc (Người yêu nước) đã dũng cảm gửi tới hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng tối thiểu cho người dân Việt Nam. Dù bản yêu sách bị các cường quốc ngó lơ, nhưng sự kiện này đã gây một tiếng vang lớn, thức tỉnh tinh thần dân tộc và làm cho cái tên Nguyễn Ái Quốc trở thành biểu tượng của niềm hy vọng đối với đồng bào trong nước.

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời cứu nước của Người diễn ra vào tháng 7 năm 1920, khi Người đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lenin. Luận cương đã chỉ rõ con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức. Giữa căn phòng nhỏ ở Paris, Nguyễn Ái Quốc đã bật khóc vì xúc động và reo lên: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!" Từ một người yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Marx-Lenin, tìm ra con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc: Con đường cách mạng vô sản.

Từ đó, Người hoạt động không mệt mỏi để chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một Đảng cách mạng. Người sang Liên Xô, rồi về Trung Quốc, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, mở các lớp huấn luyện, viết sách báo gửi về nước để gieo những hạt giống cách mạng đầu tiên. Vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam, tạo ra bộ tham mưu tối cao lãnh đạo toàn bộ tiến trình cách mạng sau này.

Sau 30 năm bôn ba khắp thế giới, mùa xuân năm 1941, Người bí mật vượt biên giới về nước tại cột mốc 108 (Pác Bó, Cao Bằng). Đứng trên mảnh đất quê hương sau bao năm xa cách, người chiến sĩ cách mạng vĩ đại không khỏi bồi hồi xúc động. Người chọn hang Pác Bó làm đại bản doanh, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước. Tại đây, Người thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị đón thời cơ chín muồi để giành lại chính quyền.

Tháng 8 năm 1945, thời cơ ngàn năm có một đã đến khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh. Dù đang ốm nặng tại lán Nà Nưa (Tuyên Quang), Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết chỉ thị: "Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập!" Lời hiệu triệu ấy như làn sóng ngút trời, tập hợp hàng triệu người dân đồng loạt đứng lên tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thần tốc. Chỉ trong vòng nửa tháng, ách thống trị gần một thế kỷ của thực dân Pháp và hàng ngàn năm của chế độ phong kiến đã bị đập tan hoàn toàn.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Giọng nói ấm áp, chính trực của Người vang vọng khắp non sông: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy."

Chặng đường sau đó lại tiếp tục là những thử thách cam go khi đất nước phải đối mặt với nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm quay trở lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng và Chính phủ chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua thác ghềnh, lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954, rồi tiếp tục dẫn dắt công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.

Dù giữ cương vị là người đứng đầu một quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ một lối sống vô cùng giản dị, khiêm nhường. Người ở trong ngôi nhà sàn gỗ đơn sơ, mặc bộ quần áo kaki sờn bạc, đi đôi dép cao su đúc từ lốp xe và ăn những bữa cơm đạm bạc như mọi người dân. Cả cuộc đời Người không một chút riêng tư, không nhà cửa, không tài sản cá nhân, tất cả đều hiến dâng trọn vẹn cho hạnh phúc của nhân dân và sự tự do của tổ quốc.

Ngày 2 tháng 9 năm 1969, trái tim vĩ đại của Người đã ngừng đập, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn thể dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tư tưởng, đạo đức sáng ngời và sự nghiệp vĩ đại của Người vẫn mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ mai sau. Người không chỉ là vị Anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, mà còn là Danh nhân văn hóa thế giới, một biểu tượng cao đẹp của khát vọng tự do, hòa bình và nhân văn của nhân loại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước và Khát vọng Độc lập | Câu chuyện thời hoa lửa