Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam
Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hóa thế giới, Anh hùng giải phóng dân tộc, người cha già kính yêu của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại một vùng quê có truyền thống đấu tranh kiên cường, Người sớm hấp thụ truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, các phong trào yêu nước chống Pháp lần lượt thất bại, với hoài bão lớn lao cứu đồng bào khỏi ách lầm than, ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Người đã quyết tâm rời Tổ quốc lên tàu đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Trong hơn 30 năm bôn ba qua nhiều châu lục (Á, Âu, Mỹ, Phi), làm nhiều nghề khác nhau để sinh sống và hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp khảo sát thực tiễn đời sống của các dân tộc thuộc địa và giai cấp công nhân các nước tư bản.
Năm 1919: Thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Versailles, đòi quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho dân tộc Việt Nam.
Năm 1920: Đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lenin, Người tìm thấy ánh sáng chân lý cứu nước: con đường cách mạng vô sản. Người trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người Việt Nam đầu tiên theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
Năm 1925: Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930).
Đầu năm 1941, sau 30 năm xa Tổ quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam từ căn cứ địa Cao Bằng. Người sáng lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và chuẩn bị mọi mặt cho tổng khởi nghĩa.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Người và Đảng ta, tận dụng thời cơ ngàn năm có một khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, toàn dân tộc đã nhất tề đứng lên làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan xiềng xích thực dân, phong kiến.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Ngay sau khi giành được độc lập, nước ta phải đối mặt với muôn vàn khó khăn "thù trong, giặc ngoài" và nạn đói, nạn dốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" bằng những sách lược ngoại giao vô cùng khôn khéo, linh hoạt và sáng suốt.
Kháng chiến chống thực dân Pháp (1946–1954): Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Người ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." Người cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ toàn dân, toàn diện, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954–1969): Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam. Dù bận trăm công nghìn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm sâu sắc cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" do Người khởi xướng đã trở thành sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ toàn quân, toàn dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời ngày 2 tháng 9 năm 1969 (tức ngày 21 tháng 7 năm Kỷ Dậu), để lại muôn vàn tiếc thương cho toàn thể đồng bào Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Trước lúc đi xa, Người để lại bản Di chúc lịch sử – một văn kiện thiêng liêng tổng kết những tư tưởng lớn và tình cảm sâu nặng của Người đối với non sông đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh: Là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta.
Đạo đức Hồ Chí Minh: Là tấm gương sáng ngời về sự tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước thương dân sâu sắc, tinh thần quốc tế trong sáng, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Năm 1987, UNESCO đã ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam". Cuộc đời và sự nghiệp của Người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ người Việt Nam trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.



