Bài viết

Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ ở Pác Bó, Cao Bằng

Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ ở Pác Bó, Cao Bằng

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ ở Pác Bó, Cao Bằng

Từ tầm nhìn xa trông rộng của một nhà chiến lược cách mạng, với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn Cao Bằng trở thành nơi đặt chân đầu tiên sau khi Người từ nước ngoài trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (05 -1941) ở Pác Bó, Cao Bằng đã hoàn thiện chuyển hướng chiến lược cách mạng Việt Nam: giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, làm nhiệm vụ dân tộc rồi mới đến giai cấp. Nghị quyết của Hội nghị thể hiện đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương: “trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(1). Chủ trương giải quyết vấn dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước Đông Dương, Hội nghị bàn về vấn đề chính quyền và nêu rõ: “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà”(2), đồng thời nêu khẩu hiệu “thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” v,v.. Kết luận, Hội nghị khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”(3).

Việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, thành lập chính thể dân chủ cộng hoà, phù hợp với tình hình mới, thể hiện tư duy độc lập, tự chủ, tính khoa học đúng đắn, tính cách mạng sáng tạo của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc và những quyết định tài tình của Người đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng, góp phần to lớn vào thành công của công cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những năm 1941 đến 1945. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc nêu trên được thể hiện trên mọi mặt công tác để xây dựng căn cứ cách mạng Cao Bằng lúc bấy giờ: về chính trị, quân sự, đời sống.

Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến tháng 11 năm 1941, Người đặc biệt chú ý đến công tác cán bộ và bồi dưỡng cán bộ như mở những lớp huấn luyện ngắn ngày cho cán bộ địa phương, yêu cầu chọn một số thanh niên Cao Bằng gửi đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu (Trung Quốc), giao cho Lê Thiết Hùng, Lê Quảng Ba và Hoàng Sâm cùng cộng tác mở lớp huấn luyện quân sự, quyết định tổ chức một đội vũ trang, v.v.. Trong thực hiện đào tạo, huấn luyện cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đào tạo, huấn luyện cán bộ toàn diện về mặt tư tưởng, lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, cán bộ kiên trung.

Người thường nói: “Phong trào thì như nước thủy triều lên, trung kiên thì như cọc đóng, có cọc đóng thì mới giữ được phù sa khi nước xuống”. Gần như thành lệ, mỗi khi nghe báo cáo phong trào, bao giờ Bác cũng hỏi: “Đã được bao nhiêu cán bộ, bao nhiêu phần tử trung kiên, đã chọn được bao nhiêu người tốt để tổ chức vào Đảng”(4). Khi tham gia huấn luyện đội du kích Pác Bó, đội vũ trang thoát ly đầu tiên, Bác chỉ rõ người tham gia du kích phải có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù địch sâu sắc, chiến đấu dũng cảm và quan hệ tốt với quần chúng. Hoạt động du kích phải bảo đảm thật bí mật, ta đến địch không hay, ta đi địch không biết. Người du kích phải dựa vào dân, dân là tai mắt, và cùng nhân dân đánh địch,…

Các lớp huấn luyện do Người trực tiếp lãnh đạo trong thời gian ở Pác Bó đều là những lớp ngắn hạn thường kết thúc sau bảy, tám ngày. Sau phần tình hình thế giới, tình hình trong nước, chương trình, Điều lệ Việt Minh, Bác giảng rất kỹ về năm bước công tác: điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, tranh đấu. Người căn dặn tuyên truyền thì bao giờ cũng phải nắm được đối tượng, phải hiểu được nông dân có khổ gì, công nhân vì sao lại tham gia cách mạng hăng hái nhất. Đối với cụ già, binh lính… thì tuyên truyền những gì… Bác rất chú ý trình độ tiếp thu và hiểu biết của mọi người. Nội dung các bài giảng của Người thiết thực, bổ ích, phù hợp và hiệu quả huấn luyện cao.

Bác bảo dân mình rất thích thơ ca cho nên Bác viết sử theo thể song thất lục bát và lục bát, để khi đọc nhân dân dễ nhớ, dễ thuộc. Người viết thành thơ 10 điều Việt Minh và nhiều bài thơ khác nhau kêu gọi các tầng lớp nhân dân để ai nấy dễ nhớ và truyền miệng cho nhau. Bác đã trực tiếp viết tập “Địa dư các tỉnh xứ Bắc Kỳ” bằng văn vần, giới thiệu 28 tỉnh, trong đó có tỉnh Cao Bằng. Bác còn viết tập “Lịch sử nước ta” cũng bằng văn vần. Người soạn lại các bài giảng ở những lớp huấn luyện Việt Minh in thành tập “Con đường giải phóng” phát về các cơ sở để cán bộ sử dụng làm tài liệu tuyên truyền rộng rãi.

Nhận thấy Cao Bằng ở thời điểm những năm 40 của thế kỷ XX dân số đa phần mù chữ và trong cán bộ cũng có nhiều đồng chí chưa biết chữ, Bác chủ trương phong trào Việt Minh tới đâu, tổ chức học văn hóa ở đó. Chủ trương dạy chữ quốc ngữ, học văn hóa của Hồ Chí Minh là một tư tưởng, hành động cách mạng đúng đắn, sáng suốt, phù hợp với hoàn cảnh dân tộc Việt Nam gần một thế kỷ sống dưới chính sách văn hóa ngu dân của thực dân Pháp. Đặc biệt, nó hoàn toàn phù hợp với nhân dân các dân tộc Cao Bằng, nơi chịu nhiều cơ cực, đắng cay dưới chế độ thực dân phong kiến, nơi được Bác và Trung ương Đảng chọn làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên. Ngay tháng đầu tiên về Pác Bó, Bác đã giao cho đồng chí Cao Hồng Lãnh soạn bộ vần dạy chữ theo lối mới. Bộ này được biên tập thành hơn 30 bài, cứ học hết số bài này là có thể đọc viết được. Nhiều nơi già, trẻ, trai, gái đều học, học ban đêm, học buổi trưa. Ở những “làng xã Việt Minh hoàn toàn” như ở Pác Bó, Nà Mạ, Nà Sắc, Đào Ngạn, ta mở trường công khai, các cháu cắp sách đến trường học ở trong rừng. Tính riêng huyện Hà Quảng, Việt Minh đã mở được 10 trường văn hóa, năm 1943 số học sinh lên tới 546 người; năm 1942 mở được 6 lớp huấn luyện chính trị cho 120 học viên, năm 1943 mở được 11 lớp cho trên 200 người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ của mỗi người cán bộ là phải bám sát quần chúng, tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia phong trào cách mạng. Ngày kết thúc Hội nghị Trung ương 8, trước khi chia tay các đồng chí Trung ương và xứ ủy, Người căn dặn mọi người về địa phương hoạt động phải luôn luôn nhớ 4 điều: – Đoàn kết thương yêu nhau, gắn bó với nhân dân; – Giữ bí mật, chấp hành nghiêm ý thức tổ chức kỷ luật; – Nắm vững đường lối, chủ trương của Trung ương và lãnh đạo phong trào theo đường lối, chủ trương đó; – Trong công tác, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Bác còn yêu cầu cán bộ lấy quần chúng làm bình phong bảo vệ và che chở cho cách mạng. Muốn được như thế, cán bộ không được làm cái gì trái với ý quần chúng, trái với phong tục tập quán địa phương. Có những phong tục tốt, cần giữ lại. Cũng có nhiều phong tục tập quán không tốt, cần phải thay đổi. Nhưng không phải tự ý cán bộ thay đổi ngay một lúc mà phải vận động từ từ để quần chúng giác ngộ và tự cải cách lấy. Không chỉ cụ thể trong lời nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tấm gương hành động sáng ngời. Những ngày mới trở về nước hoạt động, ở Pác Bó, Cao Bằng, nếu Bác không đi công tác thì khai hội, hoặc nghiên cứu, hoặc đi lấy củi, hoặc Bác xuống làng chơi với các cụ, các cháu, có độ Bác lại mở lớp huấn luyện các cụ và dạy trẻ học.

Khi ở cơ quan, Bác ngồi làm việc suốt buổi bên một tảng đá ở bờ suối, cho đến trưa thì về ăn cơm. Đến tối, tất cả mọi người vào ngủ trên một cái sàn dài kê trên mặt hang. Những cành cây gác ngang gác dọc thành cái sàn sơ sài, nằm xuống thấy ngổn ngang dưới lưng, vừa đau vừa lạnh. Đêm ở hang buốt quá, phải đốt lửa sưởi suốt đêm. Bác thường nói với anh em cán bộ rằng: “Đấu tranh giữa địch và ta là cuộc đấu tranh một sống một chết, phải chịu đựng mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu đến cùng”(5).

Thấy Bác đã có tuổi, vất vả ngày đêm, lại phải ăn cháo ngô sợ Người không đủ sức khoẻ nên các đồng chí đã bàn nhau mua gạo để nấu riêng cho Bác. Biết vậy Người đã kiên quyết không đồng ý. Có lần ngô non xay để lâu ngày mới dùng đến, nấu cháo bị chua. Các đồng chí lại đề nghị Bác cho nấu cháo gạo để Bác dùng Bác vẫn không nghe. Người hỏi các đồng chí có cách nào làm cho bắp non khỏi bị chua không? Các đồng chí thưa rằng nếu rang lên thì có thể ăn được nhưng không ngon. Bác bảo thế thì rang lên mà ăn, không nên bỏ phí. Một hạt bắp lúc này cũng quý. Lời Bác nói đã cho anh em thấm thía một bài học về sự tiết kiệm. Và câu thơ “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng” ra đời trong thời kỳ này.

Cứ như thế, Bác đã vượt qua những khắc nghiệt của thời tiết nơi vùng cao biên giới, của sinh hoạt vật chất quá đơn giản nếu không muốn nói là kham khổ “cháo bẹ rau măng”, tắm suối, ngủ hang… để cùng các đồng chí Trung ương Đảng vạch ra đường lối và phương pháp đánh Nhật, đánh Pháp, sáng suốt, đúng đắn. Trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ, Bác chúng ta vẫn luôn tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng. Chính điều đó đã gắn bó sâu nặng giữa người với đồng bào, dân bản trong những lần Người đến tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, Việt Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng phong tục tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc, từ cách ăn, mặc, ở, ngôn ngữ của Người luôn hòa nhập, gắn bó với đồng bào. Người căn dặn cán bộ: “Nơi nào có tục ăn thề thì cán bộ phải ăn thề với đồng bào”(6). Đồng chí Dương Đại Long cùng gia đình có thời gian gắn bó, che chở Bác thời kỳ ở Pác Bó, Cao Bằng kể: “Bác nói: sống không sạch sẽ, dễ mắc bệnh. Phải lo làm công tác vệ sinh”. Rồi Bác bàn với anh em chúng tôi đào hố tiểu tiện, làm nhà xí công cộng, làm nơi đổ rác, sửa lại mỏ nước và lấy than lọc nước ăn…

Bác phân công người lớn cứ chiều đến phải đun nước nóng tắm rửa cho các cháu nhỏ… Bác bận trăm công nghìn việc lo lắng cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng đồng thời Bác vẫn luôn chú ý đến đời sống những người dân bình thường của Pác Bó tại lũng Slum Lực này (7).

Trong những năm tháng ở Cao Bằng, Hồ Chí Minh không những là một vị lãnh tụ thiên tài, mà còn là một người thầy, người cha đầy lòng nhân ái. Nhân dân các dân tộc nơi đây vô cùng kính yêu Hồ Chí Minh, bởi Người đã để lại một tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức cách mạng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn