Chủ tịch Hồ Chí Minh và hành trình 30 năm tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Kỷ niệm 112 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2023):
Rời Tổ quốc tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc vào tháng 6-1911 để rồi 30 năm sau, người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mới trở về. 30 năm là một chặng đường dài qua các đại dương và lục địa, gặp gỡ bao con người, trải qua nhiều gian lao, thử thách, ghi nhận sự trưởng thành của một con người về tuổi đời, về nhận thức, về tư tưởng; từ thân phận một người dân mất nước trở thành một chiến sĩ cộng sản đầy năng lực và sáng tạo. Nhưng điều vô cùng sâu sắc và ý nghĩa là tầm vóc, tư tưởng lớn mãi mãi được ghi nhận và phát huy trong suốt hành trình tìm đường cứu nước của Người trước đây và trên con đường đổi mới và hội nhập hiện nay.
Được nhận làm phụ bếp trên tàu L’Amirale Latouche Tresville, với lương tháng 45 franc, ngày 3-6-1911, Người (với tên gọi mới là Văn Ba) đã chính thức nhận việc và ngày 5-6-1911, tàu nhổ neo rời bến cảng Nhà Rồng đưa Người hướng tới nước Pháp. Hành trình chuyến đi như sau: Ngày 5-6, tàu rời bến cảng Nhà Rồng, ngày 8-6, tàu tới Singapore, 14-6, tàu ghé Colombo (Sri Lanka), ngày 30-6, tới Port Said (Ai Cập) và ngày 6-7 tàu cập cảng Marseille, miền Nam nước Pháp.
Ngày 5-6-1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral Latouche Tréville, bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước.
Trang sổ lương của các thủy thủ tàu Amiral Latouche Tréville năm 1911, thủy thủ mang tên Văn Ba là Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này. Ảnh chụp lại. Sau khi kết thúc chuyến thứ hai, tàu L’Amiral Latouche Tréville được đưa vào xưởng sửa chữa để bảo dưỡng định kỳ còn Nguyễn Tất Thành theo chủ tàu về làm vườn cho gia đình ông tại Sainte-Adresse, một thị trấn đẹp ở vùng ngoại ô thành phố cảng Le Havre (miền Tây Bắc nước Pháp) đợi cơ hội cho những chuyến đi tiếp. Với sự giúp đỡ của chủ tàu, Nguyễn Tất Thành được nhận làm lao công cho một tàu chở hàng của Hãng Năm Sao đi châu Phi và châu Mỹ vào đầu năm 1912. Nếu như những chuyến đi trước Người có dịp cập cảng các nước từ Tây Thái Bình Dương sang bờ Đông Ấn Độ Dương qua kênh đào Suez về Pháp thì chuyến đi này Người có dịp vòng qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cập cảng các thuộc địa Pháp ở Bắc Phi và miền Tây châu Phi như Ai Cập, Algérie, Tunisia, Congo, Sénégal, Guinée, Dahomey… Đến đâu Người cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị, tạo nên ở Người mối đồng cảm sâu sắc với số phận chung của nhân dân các nước thuộc địa.Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi qua Martinique (Trung Mỹ), Argentina, Uruguay (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912. Trong thời gian tàu dỡ hàng và cất hàng, Người tranh thủ đi xem xét nhiều nơi, từ những khu phố hoa lệ nổi tiếng thế giới, những tòa nhà cao chọc trời đến những ngôi nhà ổ chuột ở khu Harlem, New York. Từ trải nghiệm thực tế đó, Người đã sớm nhận ra bộ mặt thật của đế quốc Hoa Kỳ đằng sau những tuyên ngôn, hiến chương về quyền con người, quyền tự do dân chủ.
Bàn chân của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Giữa năm 1913, Nguyễn Tất Thành trở lại Le Havre và đến nước Anh, nơi Người đã trải qua những tháng ngày lao động vất vả: cào tuyết cho một trường học, đốt than dưới hầm lò, làm việc ở khách sạn Drayton Court rồi làm phụ bếp trong khách sạn Carlton. Vừa kiếm sống, Nguyễn Tất Thành vừa học tập và hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội những người lao động hải ngoại (một tổ chức bí mật của những người lao động châu Á trên đất Anh), theo dõi những tin tức của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.
Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp ở khách sạn Carlton tại nước Anh, năm 1913. Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ biệt London trở lại nước Pháp - địa chỉ mà Người muốn hướng tới từ ngày rời đất nước. Người chuyển qua nhiều chỗ ở, từ một căn buồng ở phố Charonne đến căn nhà số 6, phố Villa des Gobelins, quận 13… rồi nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17, một trong những khu lao động nghèo nhất của Paris. Người cũng trải qua nhiều nghề để kiếm sống, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng "đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa". Tuy cuộc sống vất vả và giữa vòng vây của mật thám Pháp, nhưng Người vẫn kiên trì, hăng say học tập và hoạt động. Người thường xuyên gặp gỡ với những người Việt Nam ở Pháp, có tư tưởng và khuynh hướng tiến bộ như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, đồng thời tìm hiểu tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước Pháp, từ đó từng bước tham gia vào cuộc đấu tranh của phong trào công nhân và lao động Pháp.Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp "chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái" [2]. Giữa năm 1919, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới Hội nghị các nước đế quốc họp tại Versailles. Đây là tiếng nói chính nghĩa đầu tiên của đại biểu phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, cũng là sự xuất hiện lần đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc trên vũ đài chính trị. Mặc dù Yêu sách chỉ nêu những yêu cầu tối thiểu trong khuôn khổ cải cách, nhưng đã không nhận được một lời phúc đáp. Từ thực tế ấy, Nguyễn Ái Quốc kết luận:" Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình"[3].
Bản yêu sách Tám điểm của nhân dân Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc và nhóm người Việt Nam yêu nước gửi Nghị viện Pháp và các đoàn đại biểu dự Hội nghị Vécxây (6-1919) Sự kiện vô cùng quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc là ngày 16 và 17-7-1920, lần đầu tiên ở Pháp, báo Nhân đạo (L’Humanite), cơ quan của Đảng Xã hội Pháp công bố tác phẩm quan trọng của Lênin: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. 9 năm sau ngày rời Tổ quốc, cầm tờ báo ở trang ba đăng văn kiện của Lênin, người thanh niên yêu nước thấy bừng lên một ánh sáng mới. Văn kiện lịch sử của Lênin mở ra trước mắt Người một chân trời mới rực rỡ và là ngọn đèn soi đường giải phóng cho đồng bào của Người đang rên xiết dưới ách thực dân.
Sự kiện được đọc Luận cương của Lênin cùng với những hoạt động sát cánh với công nhân, trí thức Pháp và các đại biểu thuộc địa cùng đồng bào mình trên đất Pháp trước đó đã tạo tiền đề quan trọng để Nguyễn Ái Quốc vững bước tới tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tours tháng 12-1920. Tại Đại hội, Người cùng với những nhà hoạt động chính trị và vǎn hoá nổi tiếng của Pháp như: Marcel Cachin, Paul Vaillant Couturier... bảo vệ chủ nghĩa Mác, chống lại những người cơ hội. Cũng tại Đại hội này, Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Lúc ấy là rạng sáng ngày 30-12-1920. Thời khắc đó xuất hiện người cộng sản Việt Nam đầu tiên là Nguyễn Ái Quốc. Thời khắc đó đánh dấu sự kiện Người từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Lênin và quyết tâm bước theo ánh sáng tư tưởng Lênin. Cuối cùng Người cũng đã tìm thấy con đường giải phóng không chỉ phá vỡ xiềng xích cho dân tộc Việt Nam mà còn là niềm hy vọng chung cho các dân tộc thuộc địa khác trên thế giới.


