Bài viết

Chủ tịch Hồ Chí Minh và hành trình 30 năm tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh và hành trình 30 năm tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chủ tịch Hồ Chí Minh và hành trình 30 năm tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Cuộc hành trình lịch sử bắt đầu từ bến Nhà Rồng vào ngày 05-6-1911, khi Nguyễn Tất Thành mới 21 tuổi, không tiền bạc, không địa vị, không tổ chức hậu thuẫn. Nhưng chính từ điểm khởi đầu lặng lẽ đó đã hình thành một hành trình tư tưởng vĩ đại, dẫn tới sự ra đời của con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam: con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Chúng biến nước ta thành nước thuộc địa nửa phong kiến và dùng mọi thủ đoạn để khai thác tài nguyên, bóc lột dã man của cải và sức lao động của nhân dân ta để làm giàu cho chính quốc. Phát huy truyền thống yêu nước, nhân dân ta đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Đó là các cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương; cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám kéo dài gần 30 năm; phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục… do các sĩ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh lãnh đạo. Mặc dù diễn ra mạnh mẽ ở khắp nơi nhưng tất cả các phong trào đó đều thất bại vì thiếu một con đường và phương pháp đấu tranh đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ.

Trước thực tế ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, khi đó mới 21 tuổi, đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước, với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (1).

Ngày 05-6-1911, lấy tên là Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral La Touche De Tréville, rời bến cảng Nhà Rồng – Sài Gòn, khởi đầu cho hành trình tìm đường cứu nước. Về mục đích ra đi của mình, năm 1923, Người đã trả lời một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”(2). Một lần khác trả lời một nhà văn Mỹ, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” (3).

Trong gần mười năm đầu tiên của hành trình, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục: châu Phi, châu Âu, châu Mỹ. Ở đâu, Người cũng lao động, quan sát và suy ngẫm. Người làm phụ bếp trên tàu thủy, công nhân đốt lò, cào tuyết, rửa ảnh, viết báo. Những công việc ấy giúp Người trực tiếp trải nghiệm đời sống của giai cấp công nhân và những người lao động bị áp bức.

Tại các nước châu Phi, Nguyễn Tất Thành chứng kiến cảnh người bản xứ bị thực dân đối xử tàn bạo, bị bóc lột sức lao động và nhân phẩm. Điều đó giúp Người nhận ra rằng số phận của các dân tộc thuộc địa có nhiều điểm tương đồng, bất kể khác biệt về văn hóa hay màu da.

Khi sống tại Hoa Kỳ, Người quan sát xã hội tư bản phát triển bậc nhất thế giới. Đằng sau vẻ hào nhoáng của các thành phố lớn là sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc, nạn phân biệt chủng tộc và tình cảnh khốn cùng của người lao động nhập cư. Những trải nghiệm này giúp Người sớm nhận ra mặt trái của chủ nghĩa tư bản và sự giả dối của các khẩu hiệu dân chủ hình thức.

Tại Anh, trung tâm của cách mạng công nghiệp, Nguyễn Tất Thành trải qua những tháng ngày lao động vất vả. Vừa kiếm sống, Nguyễn Tất Thành vừa học tập và hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị và triết học cũng như theo dõi những tin tức của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ biệt London trở lại nước Pháp. Lúc này cuộc cách mạng tháng Mười Nga đã nổ ra và giành được thắng lợi, mở ra con đường mới giải phóng dân tộc, giành độc lập cho nhân loại. Giai đoạn sống và hoạt động tại Pháp mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Pháp không chỉ là trung tâm của đế quốc thực dân, mà còn là nơi hội tụ của nhiều trào lưu tư tưởng tiến bộ. Tại đây, Người tham gia Hội những người Việt Nam yêu nước và Đảng Xã hội Pháp.

Năm 1919, thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước, Người gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Hòa bình Versailles, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho dân tộc Việt Nam. Dưới bản yêu sách, Người ký tên là Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng sự kiện này có ý nghĩa lịch sử: lần đầu tiên, tiếng nói của một người Việt Nam thuộc địa được đưa ra diễn đàn quốc tế một cách công khai và chính thức.

Sự kiện vô cùng quan trọng làm chuyển biến cơ bản nhận thức về con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc là ngày 16 và 17-7-1920, lần đầu tiên ở Pháp, báo Nhân đạo (L’Humanite), cơ quan của Đảng Xã hội Pháp công bố tác phẩm quan trọng của Lênin: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. Nguyễn Ái Quốc say mê đọc và đã tìm thấy phương hướng, đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Người kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III” (4).

Sự kiện được đọc Luận cương của Lênin và những hoạt động tham gia cùng công nhân, trí thức Pháp, các đại biểu thuộc địa và đồng bào mình trên đất Pháp trước đó đã tạo tiền đề quan trọng để Nguyễn Ái Quốc vững bước tới tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tours tháng 12/1920. Tại Đại hội, Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Lúc ấy là rạng sáng ngày 30-12-1920. Thời khắc đó xuất hiện người cộng sản Việt Nam đầu tiên là Nguyễn Ái Quốc, đánh dấu sự kiện Người từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Lênin và quyết tâm bước theo ánh sáng tư tưởng Lênin. Cuối cùng, Người cũng đã tìm thấy con đường giải phóng không chỉ phá vỡ xiềng xích cho dân tộc Việt Nam mà còn là niềm hy vọng chung cho các dân tộc thuộc địa khác trên thế giới.

Sau khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tại Pháp, Người tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản báo “Le Paria” (Người cùng khổ) để tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân và cổ vũ tinh thần đấu tranh của các dân tộc bị áp bức. Năm 1923, Người sang Liên Xô, trung tâm của phong trào cộng sản thế giới, học tập tại Trường Đại học Phương Đông, tham gia các hội nghị của Quốc tế Cộng sản, nghiên cứu sâu hơn về lý luận Mác – Lênin. Những năm tháng ở Liên Xô giúp Người củng cố niềm tin vào con đường cách mạng vô sản, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm tổ chức và lãnh đạo phong trào quần chúng.

Năm 1924, theo đề nghị của Người, Nguyễn Ái Quốc được Ban Chấp hành Quốc tế cộng sản cử đi Quảng Châu, Trung Quốc. Tại đây, Người tiếp xúc với nhiều nhà cách mạng Việt Nam, mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước trong nước. Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tổ chức đặt nền móng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thông qua tổ chức này, Người đào tạo nhiều cán bộ nòng cốt, sau này trở thành những nhà lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam.

Năm 1927, tác phẩm “Đường Kách mệnh” ra đời, tập hợp các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Tác phẩm trình bày những vấn đề cơ bản về cách mạng Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của quần chúng, của tổ chức và của sự lãnh đạo thống nhất.

Trong đó, Người viết: “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng, chứ không phải việc một hai người” và “Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi” (5). Những luận điểm này không chỉ có giá trị lý luận, mà còn thể hiện phong cách chính trị gần gũi, dân chủ và thực tiễn của Hồ Chí Minh. Có thể nói, “Đường Kách mệnh” chính là sự phát triển nối tiếp của tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc xuất bản năm 1925 ở Paris. Nếu như trong cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người bóc trần và lên án những hành vi xấu xa, bỉ ổi của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa Pháp, thì ở trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã chỉ ra con đường cụ thể để giải phóng Tổ quốc mình, đồng bào mình khỏi kiếp nô lệ.

Giữa năm 1927, Nguyễn Ái Quốc trở lại Liên Xô, thực hiện nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao ở Pháp, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ, Italia rồi về Xiêm, Thái Lan, Trung Quốc. Từ những định hướng chính trị nêu trên, cùng với việc chuẩn bị về mọi mặt; việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Người và những người Việt Nam yêu nước đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, tạo ra sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam mà kết quả là sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở ba miền đất nước cuối năm 1929, đầu năm 1930. Trong bối cảnh các tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ, thiếu thống nhất, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất tại Hương Cảng, thống nhất lực lượng cách mạng thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, vào ngày 03-02-1930. Đây là một quyết định kịp thời, sáng suốt, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong cả hoạt động lý luận và thực tiễn.

Người đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, trở thành người sáng lập Đảng ta -Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Một thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân cả nước đã được mở ra: Thời kỳ giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo phong trào cả nước theo con đường cách mạng vô sản.

Sau khi thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn. Năm 1931, Người bị chính quyền Anh ở Hồng Kông bắt giam.

Được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và các luật sư tiến bộ, đặc biệt là luật sư Loseby, Nguyễn Ái Quốc đã đấu tranh pháp lý bền bỉ, buộc chính quyền Anh phải trả tự do vào năm 1933. Sau khi được trả tự do, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động ở nước ngoài, trước hết là tại Liên Xô. Trong những năm 1934 – 1938, Người theo dõi sát sao tình hình trong nước, đồng thời tham gia nghiên cứu, giảng dạy tại Trường Quốc tế Lênin, góp phần đào tạo cán bộ cho phong trào cộng sản. Trong bối cảnh Quốc tế Cộng sản có những biến động lớn, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên định quan điểm đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhấn mạnh tính đặc thù của cách mạng ở các nước thuộc địa. Đây là giai đoạn Người suy ngẫm sâu sắc về con đường cách mạng Việt Nam, từng bước hoàn thiện tư duy chiến lược gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, nhưng trước hết và trên hết là độc lập cho Tổ quốc.

Từ năm 1938, trước nguy cơ chiến tranh thế giới bùng nổ và tình hình Đông Dương ngày càng phức tạp, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô sang Trung Quốc. Tại đây, Người hoạt động trong phong trào cách mạng Trung Quốc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế và từng bước tìm đường về nước. Những năm ở Trung Quốc, Người đặc biệt chú trọng việc xây dựng lực lượng, huấn luyện cán bộ, chuẩn bị về tổ chức và tư tưởng cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Nguyễn Ái Quốc nhận thấy thời cơ giải phóng dân tộc đang dần chín muồi khi chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa thực dân bước vào cuộc khủng hoảng toàn diện do chiến tranh thế giới.

Ngày 28-01-1941, sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc bí mật trở về Tổ quốc, đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, đánh dấu sự chuyển hướng căn bản của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người từ chuẩn bị lâu dài sang trực tiếp lãnh đạo trong nước. Tại căn cứ địa Pác Bó, Cao Bằng, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5 – 1941), quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), xác định rõ con đường khởi nghĩa giành chính quyền. Những quyết sách này thể hiện tầm nhìn chiến lược sắc sảo, khả năng nắm bắt thời cơ và tư duy độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Tháng 8 – 1945, với tư duy chính trị nhạy cảm và sắc bén, dự báo chính xác, phân tích kịp thời và thấu đáo tình hình trong nước và quốc tế, nhận rõ thời cơ cách mạng đã chín muồi, Người nêu quyết tâm “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho kỳ được độc lập dân tộc” (6). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã vùng lên phá tan xiềng xích nô lệ hơn 80 năm của chế độ thực dân, xóa bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một thời đại mới rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc -Thời đại Hồ Chí Minh.

Nhìn lại toàn bộ quá trình từ năm 1911 đến năm 1941, có thể thấy hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh của ba yếu tố: chủ nghĩa yêu nước sâu sắc, tư duy độc lập và sáng tạo, cùng với sự tiếp thu chọn lọc tinh hoa của phong trào cách mạng thế giới. Người không tiếp thu máy móc lý luận nước ngoài, mà luôn gắn với thực tiễn Việt Nam, điều chỉnh phương pháp đấu tranh cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Chính sự sáng tạo đó đã làm nên tính đặc thù của cách mạng Việt Nam trong phong trào cách mạng thế giới.

Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và hành trình tìm đường cứu nước không chỉ là câu chuyện của một cá nhân, mà là biểu tượng cho khát vọng độc lập, tự do và hạnh phúc của cả dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Hành trình ấy đã dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự hình thành của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng thời, hành trình của Người cũng để lại một di sản tư tưởng quý báu cho các thế hệ sau về độc lập dân tộc, tự chủ, sáng tạo và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc nghiên cứu hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn có giá trị thời sự. Nó gợi mở những bài học sâu sắc về bản lĩnh chính trị, về phương pháp tư duy độc lập, về sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và xu thế tiến bộ của thời đại. Nhìn lại hành trình ấy, có thể khẳng định rằng con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên, mà là kết tinh của một quá trình tìm tòi nghiêm túc, khoa học và đầy trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn