Bài viết

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta

Nguyễn Thị Phương Anh

17/08/2026xã Cẩm Giang (Xã Cẩm Giang)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tổng quan và xuất thân

Hồ Chí Minh (1890 – 1969), tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung (sau đổi là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc), là nhà cách mạng vĩ đại và người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo yêu nước tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An, ông sớm có ý thức đánh đuổi thực dân Pháp nhưng quyết định chọn cho mình một con đường đi riêng, không đi theo lối mòn của các nhà ái quốc tiền bối.

Hành trình bôn ba tìm đường cứu nước (1911 - 1941)

Năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời bến Nhà Rồng ra nước ngoài. Trong suốt 30 năm bôn ba qua nhiều quốc gia (Pháp, Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc...), ông đã tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin và trở thành một người cộng sản. Ông tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), tích cực hoạt động trong Quốc tế Cộng sản và đến năm 1930, ông chủ trì hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hồng Kông.

Trở về nước và lãnh đạo giành độc lập (1941 - 1946)

Năm 1941, ông trở về Việt Nam, lập căn cứ tại Pác Bó (Cao Bằng) và thành lập mặt trận Việt Minh. Sau một thời gian bị giam cầm tại Trung Quốc (nơi ông viết "Nhật ký trong tù") và thiết lập quan hệ tình báo với quân Đồng Minh (Mỹ), ông đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám. Ngày 2/9/1945, ông đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong bối cảnh đất nước thù trong giặc ngoài, ông đã áp dụng các sách lược ngoại giao mềm dẻo, nhẫn nhịn ("dĩ bất biến, ứng vạn biến") để bảo vệ chính quyền non trẻ.

Lãnh đạo hai cuộc kháng chiến (1946 - 1969)

Khi mọi nỗ lực hòa bình thất bại, tháng 12/1946, Hồ Chí Minh phát động Toàn quốc kháng chiến chống Pháp, dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954. Sau Hiệp định Genève, ông tiếp tục lãnh đạo công cuộc xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (bao gồm cả phong trào Cải cách ruộng đất với những thành quả và cả sai lầm phải sửa chữa) và chỉ đạo cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam. Trong giai đoạn này, ông cũng xây dựng mối quan hệ ngoại giao chặt chẽ với Liên Xô và Trung Quốc.

Những năm cuối đời và di sản

Từ giữa thập niên 1960, do sức khỏe suy yếu, ông lùi dần về vai trò biểu tượng tinh thần tối cao, giao lại nhiều trọng trách cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, nhưng vẫn trực tiếp quyết định các chiến lược lớn (như Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968). Ông qua đời ngày 2/9/1969 (thọ 79 tuổi), để lại bản Di chúc lịch sử. Thi hài ông được bảo quản lâu dài tại Lăng Chủ tịch ở Hà Nội, và tên ông được đặt cho Thành phố Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) sau khi đất nước thống nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn