Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chiến dịch Biên giới Thu - Đông năm 1950
Lịch sử 30 năm trường kỳ kháng chiến của dân tộc Việt Nam vẫn lưu giữ một hình ảnh đặc biệt, mang tính biểu tượng: Bác Hồ ra trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cùng với Trung ương Đảng đề ra và chỉ đạo thắng lợi đường lối kháng chiến, là linh hồn của cuộc kháng chiến, Người còn là vị tư lệnh tối cao của Chiến dịch.Nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần vùng biên giới phía Bắc, mở rộng mối quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Tháng 6/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu - Đông 1950. Để lãnh đạo, điều hành làm công tác chuẩn bị và chỉ huy Chiến dịch, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch được thành lập do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam làm Bí thư Đảng ủy mặt trận và Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Chiến dịch. Các cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp được cử trực tiếp làm Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm chính trị và Chủ nhiệm cung cấp của Chiến dịch.Từ cuối tháng 8/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Người kiểm tra kế hoạch tác chiến, xem xét công tác chuẩn bị hậu phương, theo dõi kịp thời diễn biến của chiến dịch, góp những ý kiến chỉ đạo và động viên cán bộ, bộ đội, dân công. Việc Người ra mặt trận làm cho mọi người càng thấm sâu ý nghĩa quan trọng của Chiến dịch sắp mở, là lời động viên mạnh mẽ nhất, xúc động nhất lan truyền trong sâu thẳm toàn thể đội ngũ dân công, bộ đội tham gia Chiến dịch.Ngày 9/9/1950, Người ra “Lời kêu gọi đồng bào ba tỉnh Cao - Bắc - Lạng”: "... Đồng bào hãy tiến lên làm gương kiểu mẫu cho nhân dân toàn quốc, giúp cho Chiến dịch được thắng lợi". Lời kêu gọi của Bác càng làm nức lòng đồng bào các dân tộc Cao Bằng rời nhà lên đường đi chiến dịch. Đồng bào vùng cao của Cao Bằng chưa từng xa nhà cũng tình nguyện xuống núi đi bạt núi, mở đường, bắc cầu, vận chuyển lương thực, đạn dược bằng đôi vai, bằng ngựa thồ. Hàng vạn dân công hoả tuyến bám sát trận địa phục vụ bộ đội ăn no, đánh thắng giặc.Khi đến Cao Bằng, sau khi làm việc với Tỉnh ủy Cao Bằng ở Lam Sơn (Hoà An), Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Quảng Uyên làm việc với Bộ chỉ huy Chiến dịch. Tại Sở Chỉ huy chiến dịch Tả Phầy Nưa, xã Quốc Phong. Ngày 10/9, Người đã trực tiếp phê chuẩn quyết tâm tác chiến của Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Phân tích chủ trương đánh Đông Khê (Thạch An). Chiều ngày 11/9/1950, cũng tại Sở Chỉ huy chiến dịch, Người chủ trì Hội nghị phổ biến kế hoạch Chiến dịch cho cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn và chỉ thị: “Chưa đánh thắng thì chưa được coi là chuẩn bị xong. Quân sự thì phải chuẩn bị mãi. Thắng xong trận này cũng mới chỉ là chuẩn bị xong một đợt. Khi nào toàn thắng mới là chuẩn bị xong”. Đồng thời, Bác mong và yêu cầu cán bộ các cấp tuyệt đối không được chủ quan, khinh địch mà phải quán triệt và làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, nhất là liên tục củng cố quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong suốt quá trình Chiến dịch.Với tác phong theo sát bước chân chiến sĩ, ngày 13/9, Bác rời Sở Chỉ huy Chiến dịch đến Sở Chỉ huy tiền phương ở Nà Lạn, xã Đức Long (Thạch An). Sáng sớm 16/9/1950, từ vị trí quan sát đặt trên núi Báo Đông (cách Đông Khê 11 km đường chim bay), Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú quan sát, theo dõi chặt chẽ diễn biến trận Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên giới. Cũng tại nơi đây, Bác cảm hứng và để lại cho đời bài thơ "Lên núi" bất hủ:“Chống gậy lên non xem trận địa,Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.Hình ảnh vị lãnh tụ tối cao của Đảng, của dân tộc không ngại khó khăn, nguy hiểm ra mặt trận để cùng Bộ Chỉ huy chỉ đạo cuộc chiến đấu là nguồn động viên to lớn, làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ, dân công ra sức thi đua "giết giặc lập công", đưa Chiến dịch đến toàn thắng.Ngay sau chiến thắng Đông Khê, Bác Hồ và Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: Có thể địch sẽ chiếm lại Đông Khê để đón quân ở Cao Bằng rút lui. Do vậy, ý đồ tác chiến của ta là “nhử thú dữ vào tròng” để “khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng. Trong những ngày truy kích địch, Bác Hồ liên tục gửi nhiều thư, điện động viên bộ đội. Như được tiếp thêm sức mạnh, bộ đội ta nhất tề xông lên tiêu diệt địch, giành chiến thắng vang dội. Ngày 3/10/1950, Cao Bằng hoàn toàn được giải phóng. Đây là mốc son để Đảng bộ, nhân dân các dân tộc Cao Bằng đi vào xây dựng đời sống mới, phát triển về mọi mặt và ổn định đời sống nhân dân.Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới đã thể hiện rõ tư duy chiến lược, nghệ thuật quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị tư lệnh tối cao trong Chiến dịch. Chiến dịch Biên giới kết thúc, Người đã trực tiếp đi thăm chiến trường Đông Khê, Thất Khê, thăm thương binh, thăm các đơn vị tham gia chiến dịch, thăm dân công và thăm tù hàng binh địch. Trong niềm vui chiến thắng, Người không quên nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân: “Không vì thắng lợi mà kiêu căng, chủ quan, khinh địch, chúng ta phải nhớ rằng: trong toàn cuộc trường kỳ kháng chiến thì thắng lợi này mới chỉ là bước đầu. Chúng ta cần phải đánh thắng nhiều trận gay go hơn, to tát hơn nữa, mới đi đến thắng lợi hoàn toàn”. Thấm nhuần lời dạy sâu sắc của Người, quân và dân ta đã anh dũng xông lên làm nên một Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và cuối cùng đã làm nên một Đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.Chiến thắng Biên giới thu đông 1950 tại Cao Bằng đã lùi xa 62 năm, nhưng hình ảnh thiêng liêng “Bác Hồ ra trận” và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Người trong chiến dịch mãi mãi là ánh đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đưa đất nước ta, dân tộc ta, nhân dân ta đi tới ấm no, hạnh phúc.



