Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam

Ra đi từ bến Nhà Rồng (Cảng Sài Gòn) năm 1911 với khát khao cháy bỏng tìm đường cứu nước, giành độc lập cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua hành trình bôn ba nhiều nơi trên thế giới. Mùa xuân năm 1941, Người trở về Tổ quốc qua biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, trực tiếp cùng Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đã mở ra trang sử mới đối với lịch sử dân tộc – đất nước được độc lập, nhân dân trở thành người làm chủ nước nhà. Tuy nhiên, đất nước đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, vận mệnh dân tộc ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, trong đó nổi lên ba thách thức lớn là “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm.
Trước tình thế này, trên tinh thần chủ động và bình tĩnh ứng phó với những thách thức nghiêm trọng trên, xuất phát từ cơ sở nghiên cứu, phân tích tình hình thế giới và hiện trạng đất nước, ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, xác định rõ nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, cải thiện đời sống nhân dân.
Từ việc xác định củng cố chính quyền là vấn đề cơ bản, hàng đầu của cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tổ chức sớm cuộc Tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, lập chính phủ chính thức. Đồng thời, các địa phương cũng bầu ra Hội đồng nhân dân các cấp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và việc ban hành các sắc lệnh quy định về bầu cử
Ngày 03-9-1945, một ngày sau khi nhà nước cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân, trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống v.v…”(1).
Ngày 08-9-1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh số 14-SL quy định sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Sắc lệnh ghi rõ: Chiểu theo nghị quyết của Quốc dân đại biểu đại hội họp ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945 tại khu Giải Phóng, ấn định rằng nước Việt Nam sẽ theo Chính phủ dân chủ cộng hoà và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên. Sắc lệnh đã khẳng định yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử, đồng thời khẳng định chúng ta có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử đó.
Tiếp đó, ngày 26-9-1945, Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 39-SL về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51-SL ngày 17-10-1945 quy định “Thể lệ cuộc tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín” (2).
Ngày 02-12-1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành tiếp Sắc lệnh số 71-SL và Sắc lệnh số 72-SL để bổ khuyết Sắc lệnh số 51-SL về thủ tục ứng cử và bổ sung số đại biểu bầu cho một số tỉnh. Trong các văn bản trên, các quy định cơ bản về nguyên tắc bầu cử đã được thể hiện rất rõ. Cụ thể là: Nguyên tắc bầu cử phổ thông đầu phiếu: “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái, từ 18 tuổi trở lên, đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường” (Điều 1, Sắc lệnh số 71-SL). Đây là nguyên tắc nhằm thu hút tất cả các tầng lớp nhân dân trong nước, miễn là đến độ tuổi trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) đều được tham gia bầu cử. Nguyên tắc này cũng quy định rõ việc bầu cử đối với người nước ngoài mang quốc tịch Việt Nam; quyền bình đẳng nam, nữ trong bầu cử, ứng cử và địa bàn bầu cử theo phương thức: mỗi người chỉ được bầu cử, ứng cử ở một nơi nhất định.
Nguyên tắc bầu cử trực tiếp được quy định tại Điều 31 Sắc lệnh số 51-SL (phần “Thể lệ Tổng tuyển cử”) nêu rõ: khi bầu cử, “mỗi cử tri phải thân hành đi bầu, không được ủy quyền và cũng không được bầu bằng cách gửi thư”, nhằm chống gian lận và lợi dụng kẽ hở để chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Để động viên nhân dân trực tiếp đi bầu cử, trong “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” (ngày 05-01-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ngày mai, dân ta tỏ rõ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn”(3).
Nguyên tắc bỏ phiếu kín cũng được thể hiện tại các Điều 36 và 38 của Sắc lệnh số 51-SL, nhằm bảo đảm bí mật, an toàn và sự tự do cá nhân trong bầu cử của các cử tri. Đối với những người không biết chữ, Sắc lệnh 51-SL ghi rõ: Ban phụ trách ở các điểm bầu cử phải lập tổ ba người để giúp cử tri thực hiện quyền bầu cử theo quy trình: một người viết giúp, hai người kiểm tra. Sau đó, tổ này phải tuyên thệ trước cử tri đó rằng, đã viết đúng theo ý nguyện của họ và sẽ tuyệt đối giữ bí mật về điều đó (Điều 36 – 38). Đây là điểm rất sáng tạo, độc đáo và phù hợp với trình độ dân trí của nước ta lúc bấy giờ, nhất là đối với tầng lớp dân nghèo không có điều kiện đi học. Chính vì thế mà không khí dân chủ trong bầu cử sôi nổi ở khắp nơi trong cả nước. Trên thực tế, địa phương nào cũng có người tự ứng cử; những cuộc tiếp xúc, bàn thảo diễn ra thực sự tự do và dân chủ.
Có thể nói, với việc ban hành các sắc lệnh đầu tiên về bầu cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo cơ sở pháp lý, nền tảng cho sự thành công của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Cũng cần phải nói thêm rằng, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra đề nghị tổ chức Tổng tuyển cử thời gian này đã thể hiện một quyết định hết sức dũng cảm, đúng đắn và quyết liệt, thể hiện lòng tin tuyệt đối của Người vào nhân dân ta. Vì vậy, mặc dù biết trình độ dân trí rất thấp (hơn 90% đồng bào ta mù chữ), thù trong giặc ngoài đang chống phá nhưng Bác vẫn kiên quyết khẳng định: nhân dân sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình. Tổng tuyển cử nhất định thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến công tác tuyên truyền, vận động nhân dân cả nước thực hiện quyền bầu cử trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên
Cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho tổ chức Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến công tác tuyên truyền, vận động nhằm giúp nhân dân hiểu về ý nghĩa của Tổng tuyển cử và kêu gọi nhân dân hăng hái tham gia.
Trong bài: “Ý nghĩa của Tổng tuyển cử”, Người viết: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà… Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(4).
Ngày 31-12-1945, Bác viết bài đăng trên báo Cứu quốc số 130. Bác kêu gọi: Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nhà nước. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Do tổng Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, phủ đó thật sự là Chính phủ của toàn dân(5).
Tiếp đó, ngày 05-01-1946 (một ngày trước khi bầu cử diễn ra), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn thể đồng bào quốc dân đi bỏ phiếu. Người nhấn mạnh: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.
Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình (…) Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử” (6).
Với lời lẽ giản dị, xúc động, Lời kêu gọi toàn dân đi bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm vào trái tim của từng người con Việt Nam, khích lệ, động viên toàn thể quốc dân đồng bào vui vẻ, hứng khởi đi thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của một dân tộc tự do, độc lập.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp thực hiện quyền bầu cử
Trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946, trước ngày Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến khu Việt Nam học xá (nay là Đại học Bách khoa Hà Nội) dự lễ ra mắt các ứng cử viên trước đoàn thể nhân dân Hà Nội.
Thay mặt các ứng cử viên, Bác nói: “Từ trước đến nay, toàn quốc chưa bao giờ tuyển cử vì xưa dân chưa bao giờ làm chủ mình, xưa dân phải nghe lời vua quan, sau phải nghe thực dân Pháp, Nhật. Vừa rồi đây ta vừa tranh được độc lập. Ta đã phải hy sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó… Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy” (7).
Cũng trong thời gian đó, đồng bào và Ủy ban hành chính từ nhiều nơi gửi thư cho Chính phủ đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh không cần ra ứng cử ở một thành phố hoặc một tỉnh nào, để nhân dân cả nước có thể bỏ phiếu cho Người. Ai cũng muốn được ghi tên Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lá phiếu của mình.
Trước tấm lòng thịnh tình, kính yêu và tuyệt đối tín nhiệm của đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một bức thư ngỏ gửi đồng bào, đồng chí: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi, mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới.
Nhưng tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa. Tôi xin thành thực cảm tạ toàn thể đồng bào nam, phụ, lão, ấu khu vực ngoại thành Hà Nội”(8).
Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Người, bằng cả ý chí sắt đá của một dân tộc quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do vừa giành được, và bằng cả niềm vui sướng cao độ háo hức chuẩn bị chờ đợi bấy lâu nay, toàn thể nhân dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền ngược, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đến thành thị, không phân biệt gái trai, già trẻ đã dành trọn cho ngày lịch sử vĩ đại – ngày 06-01-1946: Toàn dân đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội!
Bảy giờ sáng ngày 06-01-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với hàng vạn cử tri thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân. Người đi bầu ở phòng bỏ phiếu đặt tại số nhà 10 phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ, Hà Nội). Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sôi nổi trên khắp cả nước. Người dân nô nức tham gia bầu cử với tỷ lệ lên tới 89%, riêng Hà Nội đạt 91,95% cử tri đi bỏ phiếu. Kết quả, 333 đại biểu ưu tú được bầu vào Quốc hội khóa I, đại diện cho các tầng lớp, giai cấp, dân tộc và tôn giáo trên cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).
Như vậy, cùng với nhân dân cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong bối cảnh vô cùng khó khăn. Người đã nêu tấm gương sáng về lòng yêu nước, quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền ngay cả khi tình thế tưởng chừng như không thể.
Ngày 12-01-1946, nhân dân thủ đô Hà Nội tổ chức mít tinh mừng thắng lợi của Tổng tuyển cử. Thay mặt các đại biểu Quốc hội đã trúng cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn nhân dân Hà Nội, biểu dương nhân dân Hà Nội và cả nước trong hoàn cảnh khó khăn phức tạp đã làm tròn nhiệm vụ của người công dân yêu nước. Người căn dặn đồng bào ra sức củng cố và giữ gìn độc lập. Kết thúc bài phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh hứa: Trước sự khó khăn của nước nhà, chúng tôi xin đi trước. Với việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi xin đi trước(9).
Ngày 02-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá I được tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời khai mạc, báo cáo trước Quốc hội những việc Chính phủ Liên hiệp Lâm thời đã làm trong 6 tháng: ra sức kháng chiến; giảm bớt đói kém bằng cách thực hành tiết kiệm, tăng gia sản xuất; tổ chức Tổng tuyển cử; bầu quốc hội thành công. Quốc hội đã nhất trí thành lập Chính phủ mới – Chính phủ kháng chiến với 10 bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Thay mặt Chính phủ kháng chiến, Người đọc lời tuyên thệ thiêng liêng trước bàn thờ Tổ quốc, trước Quốc hội: Cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hòa Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hi sinh tính mệnh cũng không từ (10).
Thực hiện lời tuyên thệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo chính phủ tiếp tục kháng chiến kiến quốc, củng cố chính quyền, thành lập mặt trận Liên Việt; mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến.
Ngày 31-10-1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội, Hồ Chí Minh được giao trọng trách tiếp tục làm Chủ tịch nước. Người thẳng thắn bày tỏ trong lời Tuyên thệ: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài…Tôi xin tuyên bố trước quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: tôi chỉ có một Đảng, Đảng Việt Nam. Tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới, Chính phủ sau đây phải là chính phủ liêm khiết”(11).
Năm 1960, nhìn lại những ngày tháng cam go ấy, trong bài “Quốc hội ta vĩ đại thật”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hồi đó, có người nói: nhân dân ta trình độ còn kém, không nên vội tổ chức Tổng tuyển cử. Nhưng Đảng ta kiên quyết nói: đồng bào ta phải được hưởng quyền dân chủ, chúng ta phải tổ chức Tổng tuyển cử. Quốc hội đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Quốc hội khoá I – đã được toàn dân bầu ra…Quốc hội khoá I của ta là quốc hội kháng chiến”(12).
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định niềm tin tuyệt đối của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tinh thần yêu nước của nhân dân ta; đồng thời, đó cũng là sự biểu thị khát vọng dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu tại Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội đầu tiên, là: “… kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc.”(13) Với tầm nhìn chiến lược của một nhà chính trị vừa kiên quyết vừa khôn khéo, mềm dẻo trong vấn đề nội trị và ngoại giao, đồng thời, thực hiện sự nhân nhượng có nguyên tắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo thắng lợi cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I, đã làm cho cuộc Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu thực sự là ngày hội của toàn dân, ngày hội của nước Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ. Lần đầu tiên sau hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến và gần một trăm năm dưới ách thống trị thực dân, người dân Việt Nam được tự do lựa chọn những người có đủ tài, đức để gánh vác công việc nước nhà.
Sự thành công của cuộc Tổng tuyển cử đã ghi nhận sự nỗ lực của Chính phủ và toàn dân, đặc biệt vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 06-01-1946 đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về thể chế dân chủ của nước ta. Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, lầm than đã tự vươn mình trở thành chủ nhân của một nước tự do, độc lập, khẳng định với thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập chủ quyền và thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự lựa chọn và xây dựng chế độ mới. 80 năm – một chặng đường dài đã trôi qua kể từ khi lần đầu tiên người dân Việt Nam được thực hiện quyền làm chủ của mình, dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I năm 1946 vẫn vẹn nguyên trong ký ức của hàng triệu trái tim Việt Nam. Những chỉ thị, sắc lệnh và hoạt động của Người năm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, để lại nhiều bài học cho các thế hệ người Việt Nam trong công tác bầu cử, xây dựng một Quốc hội xứng đáng là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.



