Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối đối ngoại sau Hiệp định Giơnevơ
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối đối ngoại sau Hiệp định Giơnevơ

Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại trong giai đoạn sau khi ký Hiệp định Giơnevơ đó là giương cao ngọn cờ độc lập, tự do; cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế; phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại… tranh thủ được sự ủng hộ, đồng tình của thế giới đối với sự nghiệp vì hòa bình và thống nhất tổ quốc của dân tộc.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta. Hiệp định Giơnevơ được ký kết buộc Pháp phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.
Thắng lợi này đã mở đường cho cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với những điều kiện thuận lợi và cả thử thách, khó khăn chồng chất đang chờ đợi.
Ở miền Bắc, hậu quả nặng nề do chiến tranh tàn phá đã gây ra những tổn thất to lớn về cơ sở vật chất và làm cho sức dân hao kiệt. Trải qua gần một thế kỷ chịu sự bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp, nền sản xuất của miền Bắc, chủ yếu là nông nghiệp (chiếm hơn 90% tỷ trọng) vốn manh mún, nghèo nàn, kỹ thuật canh tác lạc hậu đã làm cho đời sống nông dân vô cùng thiếu thốn, ngay cả lương thực cũng không đủ ăn trong khi có hơn 140.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang; nền công nghiệp yếu kém, sau khi Pháp rút đi chỉ còn trên 20 xí nghiệp, nhà máy với trang bị cũ kỹ, nhiều cơ sở bị địch tháo dỡ đem đi hoặc bị phá hoại không sản xuất được; hệ thống bưu điện, giao thông bị hư hỏng nặng cần phải phục hồi mới hoạt động trở lại; ngân hàng trống rỗng… Mặc dù hòa bình lập lại nhưng tình hình an ninh trật tự còn khá phức tạp do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cài gián điệp, tung biệt kích phá hoại, gây rối. Một số đảng phái và phần tử tề ngụy của chế độ cũ vẫn lén lút hoạt động tuyên truyền, kích động quần chúng gây ra bạo loạn; vẫn còn quân thổ phỉ ở vùng biên giới Tây Bắc chống phá chính quyền cách mạng.
Sau chiến tranh, nhiều vấn đề xã hội còn chưa được giải quyết, tàn tích của thực dân, phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề trong nhân dân. Các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, chia rẽ dân tộc, phân biệt tôn giáo còn tồn tại trong không ít bộ phận quần chúng và luôn bị kẻ địch lợi dụng để phá hoại.
Xác định nhiệm vụ trước mắt là phải tập trung lực lượng để khắc phục hậu quả chiến tranh, từng bước ổn định tình hình, khôi phục kinh tế và kiện toàn bộ máy các cấp, Đảng ta cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung chỉ đạo công cuộc tái thiết đất nước. Song đây là một mặt trận mới mẻ, trong khi đội ngũ cách mạng đa phần còn hạn chế về trình độ nhận thức, thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật, yếu kém về năng lực quản lý và điều hành xã hội… Kết quả của cuộc cải cách ruộng đất (1955-1956) đã bộc lộ những sai lầm về nhận thức và nănglực của đội ngũ cán bộ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý nhân dân.
Trong khi đó, ở miền Nam, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á, Mỹ đã nhanh chóng hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, đưa Ngô Đình Diệm, một phần tử chống cộng cuồng tín về miền Nam để làm thủ tướng, lập ra chính quyền tay sai của Mỹ. Chính quyền Ngô Đình Diệm liên tục tiến hành các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” trong thời gian 5 năm (từ 1955-1960). Chúng đã tàn sát dã man hàng chục ngàn cán bộ, đảng viên và nhân dân miền Nam. Các nhà tù, trại giam chật ních những người vô tội. Cùng với thủ đoạn khủng bố đàn áp, bắt bớ, đánh phá phong trào cách mạng, Mỹ Diệm ra sức củng cố bộ máy chính quyền tề nguỵ từ trung ương đến cơ sở, tất cả đều rập khuôn theo mô hình do Mỹ chỉ đạo. Đây là thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, lực lượng cách mạng bị tổn thất nghiêm trọng sau những đợt khủng bố điên cuồng của Mỹ-Diệm. Hơn 90% số đảng viên, cán bộ và những người yêu nước bị bắt bớ, bị giết và hầu hết các cơ sở cách mạng bị tróc phá.
Trước những khó khăn chồng chất của thời kỳ hậu chiến ở miền Bắc cùng với những tổn thất to lớn về lực lượng của phong trào cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không khỏi có những quan ngại sâu sắc. Yêu cầu lúc này là phải tìm được hướng đi thích hợp để đưa miền Bắc thoát khỏi tình trạng kiệt quệ về kinh tế, khôi phục sản xuất, đáp ứng vai trò hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, một mặt hạn chế bớt những tổn thất do kẻ địch gây ra, mặt khác giữ gìn và tiếp tục xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến tranh không tránh khỏi. Trong khi đất nước còn ngổn ngang đổ vỡ, tàn tích chiến tranh, sức dân hao kiệt thì con đường vận động, tìm kiếm viện trợ từ bên ngoài là giải pháp tối ưu để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc này.
Chính vì vậy, ngoại giao thời kỳ này được xem là mũi nhọn nhằm mục tiêu mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường tài trợ, giúp đỡ của các nước anh em, tạo nguồn lực cho đất nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động đối ngoại, ngay từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ươnglần thứ 6 (Khóa II) tháng 7/1954, trong bản báo cáo đọc tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung phân tích những thay đổi về tình hình thế giới và trong nước, đưa ra nhận định về kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là đế quốc Mỹ. Người khẳng định rằng: “Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, độc lập, thống nhất và dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược thì phải linh hoạt”(1).
Vận dụng sự linh hoạt ấy, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, tháng 6-1955, trong lời phát biểu khi thăm Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những quan điểm và đường lối đối ngoại của Nhà nước ta: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mối quan hệ thân thiện, hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình”(2). Cụ thể hóa đường lối trên, tại Hội nghị Bộ Chính trị (tháng 9/1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích về chiến lược và sách lược ngoại giao của Nhà nước đối với từng khu vực và từng đối tác. Người nhắc lại nguyên tắc chung là: “Xây dựng và phát triển quan hệ ngoại giao với bất cứ nước nào dựa trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau”(3).
Để tăng cường thế và lực cho cách mạng Việt Nam, ngay từ năm 1954, Hồ Chí Minh đồng thời triển khai hoạt động đối ngoại trên nhiều hướng: Đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ; củng cố, tăng cường quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; đóng góp tích cực vào việc củng cố tình đoàn kết giữa các đảng anh em và sự thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; xây dựng quan hệ hữu nghị với hai chính phủ Vương quốc Campuchia và Lào theo 5 nguyên tắc chung sống hòa bình; tăng cường đoàn kết với phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh; tham gia vào phong trào hòa bình và dân chủ thế giới, chống đế quốc, thực dân hiếu chiến.
Đó thực chất là những yếu tố khởi đầu của chính sách đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế mà Việt Nam có thể thực hiện được trong điều kiện thực tiễn quan hệ chính trị thế giới lúc bấy giờ.
Trọng tâm của công tác ngoại giao thời kỳ này được Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta xác định là tập trung vào các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc; các nước láng giềng và các nước vốn là nước thuộc địa có nhiều quan hệ mật thiết với ta trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Pháp như Ấn Độ, Indonesia, Miến Điện…. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á như Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện, làm cho chính phủ các nước đó đồng tình với nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa hoặc ít nhất cũng giữ trung lập”(4).
Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên hãng thông tấn Ấn Độ, khi được hỏi về chính sách ngoại giao của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời: ‘Chính sách ngoại giao của Việt Nam dựa trên năm nguyên tắc lớn, mục tiêu của chúng tôi là củng cố hòa bình giữa các nước và tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc”(5). Tuy nhiên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta phải dựa vào phe xã hội chủ nghĩa, bởi đây là lực lượng mà chúng ta có thể tin cậy, trông chờ vào sự giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần.
Chủ trương này được Người nhắc lại trong Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (tháng 3/1955): “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước phe xã hội chủ nghĩa khác, thực hiện việc phối hợp chặt chẽ các nước anh em trong hoạt động quốc tế và đất tranh ngoại giao”(6).
Song song với việc tập trung phát triển quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc và các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, đặc biệt là với Lào, Campuchia. Về mối quan hệ giữa Việt Nam với hai nước láng giềng Lào và Campuchia, Người luôn nhắc nhở rằng do có kẻ thù chung, nhân dân ba nước Đông Dương nên đoàn kết với nhau và khuyến khích thành lập mặt trận chung ba nước Đông Dương chống Mỹ xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo: “Về quan hệ nhà nước cần hòa hoãn quan hệ với Lào và Campuchia trên cơ sở thi hành Hiệp định đình chiến, làm tiêu tan những hoang mang của họ”(7).
Trong bài phát biểu phiên họp bế mạc quốc hội khóa I, kỳ họp thứ IV (tháng 3/1055), Người cũng khẳng định: “Chính sách ngoại giao của nước ta là: Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn, nhân dân hai nước Cao Miên (Campuchia) và Lào… và thực hiện năm nguyên tắc lớn chung sống hòa bình”(8).
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc cải thiện quan hệ giữa ViệtNam và Chính phủ Vương quốc Lào, khuyến khích các lực lượng tiến bộ thúc đẩy xu hướng hòa bình, trung lập và hòa hợp dân tộc ở Lào. Người và Đảng ta bày tỏ sự ủng hộ Mặt trận Lào yêu nước, ủng hộ nhân dân Lào đấu tranh chống lại âm mưu can thiệp của Mỹ, đồng thời kiên trì ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc của Thủ tướng Phuma, tích cực giúp đỡ Pathet Lào xây dựng lực lượng, phối hợp chiến đấu với Mỹ và các lực lượng phái hữu.
Bên cạnh việc xác lập quan hệ hữu nghị với Lào, Hồ Chí Minh và Đảng ta cũng quan tâm việc xây dựng quan hệ với Campuchia, ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập của nước này.
Trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960) của Đảng viết:
“Chúng ta hoan nghênh và ủng hộ đường lối hòa bình, trung lập của Campuchia và sẽ tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị với Vương quốc Campuchia”(9).
Trong giai đoạn này, cùng với nhiệm vụ tăng cường, mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới, một nhiệm vụ hết sức quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đó là đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ về tiến hành cuộc tổng tuyển cử để tiến tới thống nhất hai miền Nam Bắc. Người xác định: chúng ta phải kiên trì đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, thực hiện hiệp thương dân chủ nhưng phải luôn luôn cảnh giác, không được ảo tưởng hòa bình và chỉ rõ cuộc đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước là cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ.
Những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ này luôn khẳng định tư tưởng “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Người nói rõ: “Nước Việt Nam là một, từ Nam chí Bắc chung một tiếng nói, một lịch sử, một nền văn hóa và một nền kinh tế. Nhân dân Việt Nam đã hy sinh nhiều xương máu đấu tranh cho tự do độc lập, quyết không một lực lượng nào ngăn được sự nghiệp thống nhất Tổ quốc của mình”(10). Trong bài tuyên bố với các đại sứ trong Ban quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành hiệp định Giơnevơ về Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Miền Bắc và miền Nam là hai bộ phận của một nước, không lẽ những nhà có trách nhiệm giữa hai miền lại không thể cùng nhau gặp gỡ và bàn bạc để sớm thực hiện ý nguyện thiết tha của toàn thể nhân dân Việt Nam làthống nhất tổ quốc bằng phương pháp hòa bình”(11).
Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài viết vạch trần bản chất xấu xa của chế độ, chính quyền tay sai, âm mưu xâm lược, dã tâm muốn chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ. Người chỉ rõ: Ngô Đình Diệm “lợi dụng đạo Chúa để làm ô nhục danh Chúa, lợi dụng đồng bào rồi giết hại đồng bào”(12). Chúng gây chia rẽ, hận thù dân tộc, tôn giáo, phá hoại quá trình thống nhất tổ quốc.
Người cũng vạch trần trước dư luận trong nước và thế giới những hành động trắng trợn của đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai cố tình phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại hiệp thương để đi đến thống nhất đất nước. Tại khu Phủ Chủ tịch, Người đã viết hàng loạt bài báo tố cáo chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm cố tình vi phạm Hiệp định Giơnevơ trong việc tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ và công bố Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa. Người tuyên bố với thế giới: “Những hành động của đế quốc Mỹ từ khi Hội nghị Giơnevơ kết thúc đến nay là hoàn toàn phạm pháp vì nó đều nhằm phá hoại Hiệp định Giơnevơ mà đế quốc Mỹ đã cam kết tôn trọng”13).
Với các tổ chức quốc tế, Ủy ban giám sát và kiểm soát thi hành hiệp định Giơnevơ, Ủy ban đoàn kết Á – Phi – Mỹ Latinh, Ủy ban bảo vệ hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thực hiện các hoạt động ngoại giao nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ. Người thường xuyên gặp gỡ, trao đổi thư từ với các thành viên trong các ủy ban để khẳng định thái độ, lập trường của Chính phủ, nhân dân ta, kiên quyết thực thi đúng đắn Hiệp định đình chiến, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân. Người bày tỏ mong muốn Ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơnevơ một cách khách quan, vô tư, đúng nguyên tắc. Qua thái độ mềm dẻo nhưng kiên quyết, không khoan nhượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lập trường chính nghĩa của Đảng, Nhà nước ta đã được khẳng định và qua đó, tranh thủ được sự ủng hộ, đồng tình của dư luận nhiều nước đối với sự nghiệp vì hòa bình và thống nhất tổ quốc của dân tộc.
Qua các hoạt động đấu tranh tích cực của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những âm mưu và hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ của Mỹ- Diệm đã được phơi bày giúp cho thế giới nhìn nhận rõ sự can thiệp trắng trợn và bản chất phi nghĩa của hành động này và qua đó khẳng định trước thế giới lập trường kiên định của ta sẽ đấu tranh để bảo vệhòa bình và thực hiện thống nhất đất nước bằng mọi giá.
Nhờ những đường lối đối ngoại phù hợp và những nỗ lực ngoại giao tích cực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn sau khi kí Hiệp định Giơnevơ, Việt Nam đã xây dựng được mối quan hệ đoàn kết quốc tế trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh đã hiện thực hóa khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác-Lênin “vô sản các nước đoàn kết lại”, góp phần mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc, đảm bảo tính pháp lý quốc tế của dân tộc Việt Nam. Người đã bắc nhịp cầu đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc.



