Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và trọng dụng nhân tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và trọng dụng nhân tài
Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú kết hợp với lý luận cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận biết tầm quan trọng của yếu tố nhân lực đối với sự phát triển của một dân tộc. Người đã đặc biệt trọng dụng nhân tài và chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ chuẩn bị nguồn lực cho đất nước. Công việc này đã được Người thực hiện một cách kiên trì và không mệt mỏi trong suốt cả cuộc đời mình.
Trên cương vị là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” . Do vậy, ngay từ những ngày đầu mới thành lập chính quyền cách mạng, Người đã coi việc xóa mù chữ, tiêu diệt giặc dốt và nâng cao dân trí là nhiệm vụ thứ hai trong số sáu nhiệm vụ cấp bách của đất nước lúc bấy giờ. Trong “Thư gửi các học sinh” nhân ngày khai trường đầu tiên khi nước nhà vừa giành được độc lập tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khích lệ học sinh chăm chỉ học tập để góp phần dựng xây đất nước: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(2). Đặc biệt, Người đã đưa ra một quan điểm mang tính chiến lược có giá trị nhân văn sâu sắc về vấn đề giáo dục bồi dưỡng nguồn lực, đến nay đã trở thành mục tiêu hành động của toàn xã hội: Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người (3).
Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thực sự trọng dụng nhân tài và luôn luôn mong muốn thu nạp được nhân tài để giúp dân, giúp nước. Bởi, Người hiểu rất rõ việc dùng người là quốc sách, nó tuy không phải là nguyên nhân duy nhất, nhưng có tác dụng trực tiếp đến sự tồn vong của quốc gia, sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy mối quan hệ biện chứng và vai trò cấp thiết của nhân tài trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Chỉ hai tháng sau ngày độc lập, ngày 14/11/1945, Người viết bài đăng trên Báo Cứu quốc, số 91: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều.”(4)
Đánh giá cao vai trò của nhân lực chất lượng đối với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, đồng thời thể hiện một cách chân thành chủ trương trọng dụng nhân tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra một văn bản quan trọng “Tìm người tài đức” đăng trên Báo Cứu quốc số 411, ngày 20/11/1946. Tác phẩm không giống một bài báo, mà là lời hiệu triệu, lời kêu gọi thiết tha được viết với tư cách của người đứng đầu Chính phủ. Người nêu lý do ra văn bản một cách ngắn gọn: “Nhà nước cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài”. Và Người “tự nhận khuyết điểm” rằng: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”(5). Đồng thời, Người cũng đề xuất sửa đổi khuyết điểm đó: “Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”(6).
Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng nhân tài là tấm lòng thiết tha, thật sự cầu hiền cùng với cách làm cụ thể, công khai. Nhờ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ, tập hợp được nhiều người có đức, có tài cùng tham gia phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân như các vị nhân sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố,… các trí thức tiêu biểu của thời kỳ này ở trong nước và ngoài nước như các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ,… Mọi người đều tận tâm, tận lực cống hiến hết sức mình vì sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, sống cần kiệm liêm chính, chí công vô tư và đã thực sự trở thành những nhân tài của đất nước, là những tấm gương sáng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chế độ mới.
Để có thêm nhiều nhân lực, nhân tài trong các lĩnh vực, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Nhà nước phải tiến hành thực hiện bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho thích hợp với nhiệm vụ mới, xã hội mới. Trong bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” đăng trên Báo Nhân dân, ngày 1/5/1951, Người khẳng định: “Lao động trí óc cần được khuyến khích giúp đỡ, phát triển tài năng…”(7), và thẳng thắn yêu cầu: “Ngày nay, chúng ta phải làm hai việc nhằm một mục đích: Một là đào tạo những trí thức mới trong công nông. Hai là cải tạo những trí thức hiện có”(8). Nghĩa là công nông cần học tập để nâng cao trình độ trí thức của mình, trí thức cần gần gũi công nông và học tập tinh thần, nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm lao động của công nông.
Sau ngày hoà bình lập lại, nói chuyện với học sinh Trung học Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiệm vụ của người học là: “Học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nước mạnh, tức là để làm trọn nhiệm vụ người chủ của nước nhà. Học phải đi đôi với hành”(9). Để làm được việc đó, Người khẳng định trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy là: Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành những người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt, phải tạo nguồn lực tốt cho nước nhà.
Tầm nhìn xa, trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ trong việc: ngay khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này là kháng chiến chống Mỹ đang trong giai đoạn gay go, quyết liệt nhất, Nhà nước ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử những thanh niên ưu tú nhất ra nước ngoài học tập để chuẩn bị cho công cuộc xây dựng đất nước sau ngày thắng lợi. Và để đảm bảo đủ số nhân lực cho nhu cầu kiến thiết đất nước, Người chỉ rõ: “Trong việc kiến thiết nước nhà về mọi mặt, ta thiếu rất nhiều cán bộ như kỹ sư, chuyên gia, thợ lành nghề, thầy dạy học,… vì vậy, ta phải phát triển mạnh đại học và chuyên nghiệp. Muốn phát triển đại học và chuyên nghiệp, phải chú trọng cấp 2, cấp 1 và cấp vỡ lòng”.
Là lãnh tụ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: một khi đã có đường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyết định, phải biết lựa chọn cán bộ, phải biết đánh giá và dùng cán bộ, coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Người nhấn mạnh: “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Từ nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của cán bộ trong giải quyết mọi công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy cần phải có đội ngũ cán bộ tốt và để có đội ngũ cán bộ tốt, Người và Đảng ta đã phải dày công đào tạo, huấn luyện và xây dựng nguồn nhân lực ưu tú qua các thời kỳ.



