Bài viết

Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Kế thừa, sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp, đoàn kết đông đảo nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Người khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào.

 Tháng 2/1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cho cách mạng Việt Nam, trở thành nhân tố hạt nhân quy tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắt tắt của Đảng, Sách lược vắt tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắt tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người dự thảo. Các văn kiện cũng đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản về chiến lược, sách lược xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, với nội dung cơ bản là: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo”(1).

Giữa lúc tình hình thế giới cũng như trong nước có nhiều chuyển biến thuận lợi cho cách mạng Việt Nam, ngày 28/01/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng ở nước ngoài. Cuối tháng 4/1941, theo đề nghị của Người, một hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng được triệu tập, để tổng kết kinh nghiệm tổ chức thí điểm các hội quần chúng như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc nhằm tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh trong toàn quốc.

Nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, tranh thủ mọi lực lượng yêu nước có thể tranh thủ, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù, thực hiện đường lối đoàn kết toàn dân tộc với việc thành lập Mặt trận dân tộc mà thời kỳ trước đó đã tiến hành với nội dung và hình thức thích hợp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp công lớn vào việc quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương”. Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời với Tuyên ngôn và Chương trình cụ thể nêu cao ngọn cờ đoàn kết toàn dân tộc.

Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh khẳng định: “Việt Minh chủ động liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”, “coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập”(2).

Chương trình cứu nước, hiệu triệu nhân dân của Mặt trận Việt Minh thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào mong ước là: – Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập – Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do Với chủ trương đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân, Mặt trận Việt Minh đã thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, thông qua Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta không những được đoàn kết, tập hợp rộng rãi mà lần đầu tiên còn biết cách đoàn kết có hiệu quả cao nhất. Lực lượng cách mạng đứng dưới ngọn cờ đại nghĩa của Việt Minh ngày càng được mở rộng và phát triển không ngừng.

Để động viên các giới đồng bào tham gia xây dựng và không ngừng mở rộng Mặt trận Việt Minh, ngày 06/6/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Kính cáo đồng bào gửi đến các tầng lớp nhân dân trong cả nước kêu gọi: “Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”.

Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng..”(3). “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng… Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên! Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!”(4).

Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp làm cho tình hình Đông Dương khủng hoảng sâu sắc. Nhận rõ tình hình, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp và ra Chỉ thị Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta (12/3/1945).

Chỉ thị xác định kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương sau cuộc đảo chính là phátxít Nhật và chỉ rõ phải thay đổi khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật-Pháp” bằng khẩu hiệu “Đánh đuổi phátxít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”.

Để tập hợp đông đảo nhân dân tham gia vào cao trào kháng Nhật cứu nước, ngoài việc xác định rõ kẻ thù và củng cố mặt trận dân tộc thống nhất, ban hành các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, Đảng và Mặt trận Việt Minh còn kịp thời đề ra khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của quần chúng: “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”. Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” đã đáp ứng nguyện vọng khẩn thiết, cấp bách trước sự sinh tồn của đại đa số nhân dân, là một nghệ thuật phát động quần chúng, hình thức đấu tranh thích hợp nhất lúc bấy giờ để đưa hàng triệu quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp đến hình thức đấu tranh cao, từ đấu tranh cho quyền lợi kinh tế hàng ngày đến giác ngộ chính trị. Chính vì vậy, phong trào phá kho thóc, giải quyết nạn đói của quần chúng, không chỉ có ý nghĩa kinh tế trước mắt, mà còn có nội dung chính trị sâu sắc, nên đã phát động được một cao trào mạnh mẽ chưa từng thấy.

Ngày 11/8/1945,  Nhật chấp nhận đầu hàng Đồng Minh không điều kiện. Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến. Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945 tại Tân Trào quyết định Đảng phải: Kịp thời hành động, không bỏ lỡ cơ hội, phát động và lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân đồng minh kéo vào tước vũ khí quân đội Nhật.

Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn ra vấn đề phải làm sao cho cuộc Tổng khởi nghĩa có tính chất toàn dân rộng rãi, để khi cách mạng thành công sẽ trở thành người đại diện xứng đáng cho toàn dân tộc đứng ra đối phó với quân Đồng minh (sẽ kéo vào giải giáp quân Nhật trong thời gian không xa). Chính vì thế, Người chỉ thị triệu tập Quốc dân đại hội, tổ chức vào ngày 16/8/1945 tại Tân Trào. Đại hội quy tụ hơn 60 đại biểu tham dự, đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam và kiều bào ta ở nước ngoài, đại biểu các đảng phái chính trị, các đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo. Quyết định triệu tập Quốc dân Đại hội trong thời điểm lịch sử quan trọng này là một sáng tạo tài tình, thể hiện sự nhạy bén trước thời cuộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoạt động và những quyết sách của Quốc dân Đại hội thực sự tiêu biểu cho ý chí “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” đang sục sôi trong nhân dân, thực sự là hình ảnh của khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội nhất trí ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng; thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh; quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Thay mặt Ủy ban dân tộc giải phóng, Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đồng bào cả nước, kêu gọi toàn dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền: “Hỡi đồng bào yêu quý!

Bốn năm trước đây, tôi có thư kêu gọi đồng bao ta đoàn kết. Vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do…

Không phải Nhật bại là nước ta tự nhiên được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu. Chỉ có đoàn kết, phấn đấu, nước ta mới được độc lập…

Hỡi đồng bào yêu quý!

Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ”(5).

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc muôn người như một, từ miền núi đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị đã vùng lên khởi nghĩa giành lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật. Sức mạnh của nhân dân cả nước đã bùng lên thành bão táp cách mạng, quyết giành lại độc lập, tự do. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, và hầu hết các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Khánh Hòa lần lượt nổi dậy giành chính quyền. Ngày 19/8/1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội kết thúc thắng lợi, góp phần cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các địa phương tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 23/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Huế, vua Bảo Đại phải thoái vị, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến ở Việt Nam. Ngày 25/8, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn đưa cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của nhân dân ta đến thành công, lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền cả nước thuộc về nhân dân. Như vậy, chỉ trong khoảng gần hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của nhân dân ta dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đập tan xiềng xích nô lệ của phát xít Nhật, lật nhào chế độ chuyên chế, lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thắng lợi này đã đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận người nô lệ trở thành công dân một nước Việt Nam độc lập, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời để lại những bài học kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó có bài học về phát huy sức mạnh khối đoàn kết toàn dân tộc, khi được Đảng khơi dậy, tổ chức tập hợp với tinh thần tự lực, tự cường: Đoàn kết, đoàn kết, đại

đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công.

Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ta hiện nay của Đảng và nhân dân ta; giúp cho Đảng ta có được những cơ sở tư tưởng để định hướng và đề ra chính sách phù hợp trong việc xây dựng và không ngừng mở rộng khối đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và đoàn kết toàn dân ta, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, cùng nhau phát huy truyền thống của dân tộc, đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng góp phần tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, Nước mạnh” như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn