CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG-MỘT NHÂN CÁCH CỘNG SẢN CAO ĐẸP
Đồng chí Tôn Đức Thắng (1888 - 2018), nguyên Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một nhân vật lịch sử, một trong những nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng, người đã gắn bó cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta từ trước khi có Đảng. Đồng chí Tôn Đức Thắng có gần 20 năm gắn bó với phong trào công nhân Sài Gòn, với nhân dân Sài Gòn (từ năm 1907 - lần đầu tiên đặt chân lên thành phố - cho đến những năm 1929 - 1930, khi tổ chức cộng sản ra đời). Nhất là từ sau thành công củ
Đồng chí Tôn Đức Thắng (1888 - 2018), nguyên Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một nhân vật lịch sử, một trong những nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng, người đã gắn bó cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta từ trước khi có Đảng. Đồng chí Tôn Đức Thắng có gần 20 năm gắn bó với phong trào công nhân Sài Gòn, với nhân dân Sài Gòn (từ năm 1907 - lần đầu tiên đặt chân lên thành phố - cho đến những năm 1929 - 1930, khi tổ chức cộng sản ra đời). Nhất là từ sau thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bác Tôn đã lần lượt đảm nhận những trọng trách của Đảng, Nhà nước, Quốc hội: Trưởng ban vận động thi đua ái quốc Trung ương (1948), Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1951), Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Liên Việt (1951), Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1960), Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1969) và Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976). Ngoài ra, Bác còn là Chủ tịch danh dự Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam và là Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới.
Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên cường. (Ảnh tư liệu)Vào đầu xuân 1907, người thanh niên Tôn Đức Thắng đã có đủ hành trang bước vào đời một cách vững chãi. Đồng chí quyết định chọn Sài Gòn lập nghiệp và sinh sống, từ đây hứa hẹn những bước tiến cả về nhận thức lẫn hành động ở giai đoạn trưởng thành.Sau cuộc phản chiến ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, gây tiếng vang lớn trên Biển Đen, một số binh lính của chiến hạm Phrăngxơ được giải ngũ. Đồng chí Tôn Đức Thắng rời khỏi hải quân, trở lại làm công nhân từ cuối năm 1919 tại Pháp.Qua tiếp xúc với những người công nhân, chiến sĩ của phong trào vô sản, qua cuộc đấu tranh để bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga, tinh thần cách mạng và nhận thức chính trị của Đồng chí Tôn Đức Thắng được nâng cao. Cũng trong khoảng thời gian này, tiếng vang của các hoạt động yêu nước, cách mạng của Nguyễn Ái Quốc tại Pháp đã thôi thúc Đồng chí Tôn Đức Thắng đến Paris để tìm gặp người thanh niên lỗi lạc ấy, người đã dám đưa yêu sách cho hội nghị các nước đồng minh ở Vécxây (Verseille) năm 1919, người đã từng phát biểu ở Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp từ giữa năm 1920 (tại thành phố Tours, Tôn Đức Thắng có thời gian làm thợ tại một nhà máy của hãng Renault). Rất tiếc lúc đó Đồng chí Tôn Đức Thắng đã không gặp được Nguyễn Ái Quốc. Tháng 8-1920, Đồng chí lên đường về nước.Trở lại Sài Gòn, Đồng chí Tôn Đức Thắng nhanh chóng tìm được việc làm ở hãng Kroff, một hãng tư nhân của Đức nằm trên đường Sămpanhơ (nay là đường Lý Chính Thắng). Đồng chí có điều kiện đi lại, gặp gỡ những người đã từng học hoặc làm việc chung trước đây. Đồng chí Tôn Đức Thắng luôn suy nghĩ đến việc phải tổ chức công nhân thành đoàn thể, qua đó giác ngộ họ thấy được vai trò và sức mạnh của giai cấp mà đấu tranh giành lấy những lợi ích thiết thân trước mắt. Với nhận thức và hoài bão đó, Đồng chívà các đồng chí của mình quyết định xây dựng nồng cốt và thành lập tổ chức Công hội bí mật vào cuối năm 1920 và xây dựng nhóm trung kiên lãnh đạo gồm có: Tôn Đức Thắng, Đặng Văn Sâm (Nhuận), Trần Văn Hòa (Ba Hòe), Trần Ngọc Giải (Thuận Hòa), Bùi Văn Thêm (Định), Trần Trương (Sáu Trương).Sài Gòn - Chợ Lớn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) có vinh dự là nơi đầu tiên khai sinh tổ chức của giai cấp công nhân ở nước ta - Công hội Sài Gòn. Từ năm 1920 đến năm 1925, với hoạt động tích cực của Đồng chí Tôn Đức Thắng và nhóm trung kiên, khắp Sài Gòn - Chợ Lớn đều có cơ sở của Công hội và số hội viên từ vài chục người đã phát triển dần lên đến 300 người1. Phần lớn các cơ sở Công hội được tổ chức ở ngay trong các xí nghiệp của thực dân Pháp hoặc tư bản nước ngoài như hãng Kroff, xưởng Ba Son, trường Bá Nghệ, hãng Faci, nhà đèn Chợ Lớn, hãng rượu Bình Tây, hãng dầu Nhà Bè, v.v. và một số hãng xưởng tư nhân khác của người Việt. Công hội chọn Đình Bình Đông làm nơi chủ yếu để hội họp và cất giữ tài liệu.Bằng tinh thần yêu nước và ý thức đấu tranh của một giai cấp bị áp bức, bóc lột nặng nề bởi chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, hàng chục rồi hàng trăm công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã hăng hái gia nhập Công hội, tự nguyện trích những đồng lương ít ỏi của mình đóng góp hội phí, luân phiên lấy từng ngôi nhà công nhân làm nơi hội họp, sinh hoạt. Mặc dù hoạt động bất hợp pháp và thiếu bài bản, nhưng chính từ tổ chức chính trị tiền thân này, phong trào công nhân Việt Nam đã từng bước lớn mạnh đạt đến trình độ tự giác. Cột mốc đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của phong trào công nhân là một sự kiện diễn ra trên địa bàn thành phố: cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son vào tháng 8-1925 đã nêu ra những khẩu hiệu đấu tranh không chỉ dừng lại ở mục tiêu kinh tế mà còn thể hiện rõ ý thức chính trị và tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản.Chính phong trào công nhân Ba Son hợp cùng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở các địa phương khác trong toàn quốc đã trở nên mảnh đất tốt để chủ nghĩa Mác - Lênin ươm mầm gieo những hạt giống đỏ đầu tiên.Sài Gòn và Nam Kỳ trong những năm 1925 - 1926, không khí chính trị rất sôi động bởi các sự kiện như: cuộc đấu tranh đòi trả tự do cho Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh về nước diễn thuyết tư tưởng quân trị và dân trị, nhiều cuộc diễn thuyết của Nguyễn An Ninh thu hút hàng ngàn, hàng vạn người tham dự, nhiều tờ báo của người Việt Nam công kích chế độ thực dân qua việc bắt lính, bắt phu (báo Chuông Rè, Người nhà quê, An Nam trẻ), phong trào đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh, phong trào để tang và truy điệu Phan Châu Trinh… biến thành những cuộc bãi công, bãi khóa hàng loạt khắp Nam Kỳ. Tham gia những cuộc vận động chính trị sôi nổi này phần lớn là thanh niên và công nhân.Chính lúc này, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bắt đầu đẩy mạnh việc phát triển lực lượng, xây dựng cơ sở ở trong nước. Nhiều năm trước đó, phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã được Nguyễn Ái Quốc quan tâm theo dõi (từ khi còn ở Pháp, Người đã có nhiều bài báo, bài nói đề cập đến vấn đề này). Sau khi về Quảng Châu (12-1924) và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1925), Nguyễn Ái Quốc luôn chú ý đến việc không có hội viên người Nam Kỳ dự lớp huấn luyện đầu tiên. Cho nên, vào tháng 10-1926, Nguyễn Ái Quốc đã giao nhiệm vụ cho hai hội viên Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, giác ngộ quần chúng, trước tiên là công - nông rồi đến thanh niên, học sinh, tiểu tư sản trí thức; qua đó gây dựng cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn và Nam Kỳ.
(Ảnh tư liệu)Ôn lại thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, có 2 sự kiện tôi cảm phục trân trọng tấm gương của nhà lãnh đạo đầy trách nhiệm trước dân, trước Đảng, một tấm gương thực hành đạo đức cách mạng, tấm gương của sự khiêm tốn, giản dị, liêm khiết, trung thực, chân thành, luôn chí công vô tư, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân lên trên hết, trước hết.Sự kiện ngày 15/10/1945, tại Cầu Vĩ (Mỹ Tho) có một cuộc Hội nghị cán bộ toàn Xứ để bàn việc thống nhất Đảng và thống nhất Việt Minh nhằm củng cố Đảng thêm vững mạnh để lãnh đạo phong trào kháng chiến. Hội nghị đã bầu ra một Xứ uỷ thống nhất gồm 11 đồng chí: Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Ngọc Danh, Lê Văn Sĩ, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng Dư Khương, Nguyễn Thị Thập, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp (những đồng chí mới từ Côn Đảo trở về và một số đồng chí trong Xứ uỷ Tiền phong và Xứ uỷ Giải phóng) và Bác Tôn được Hội nghị thống nhất bầu giữ nhiệm vụ Bí thư Xứ ủy. Những cán bộ ưu tú của Đảng ta bị giam cầm ở nhà tù Côn Đảo được đưa về đất liền (tại tỉnh Sóc Trăng) ngày 22/9/1945, ngay lập tức trực tiếp tham gia vào cơ quan lãnh đạo của Đảng. Đây là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa rất lớn đối với Đảng bộ Nam Bộ.Sau đó mười ngày, Ngày 25/10/1945, Xứ ủy triệu tập cuộc Hội nghị cán bộ lần thứ hai tại Thiên Hộ (Mỹ Tho). Đây là hội nghị lớn nhất của Đảng bộ Nam Bộ từ sau khi giành được chính quyền nhằm bàn những công việc quan trọng để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đặc biệt là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Hội nghị đã phân tích tình hình, biểu dương thành tích chiến đấu anh dũng của quân, dân Nam Bộ; rút kinh nghiệm trong chỉ đạo kháng chiến từ sau Hội nghị Cây Mai (Chợ Lớn) ngày 23/9/1945; phân tích những sai lầm, khuyết điểm của Đảng bộ Nam Bộ trong việc xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám2. Trong Hội nghị này, đồng chí Tôn Đức Thắng đã khiêm tốn xin không nhận chức vụ Bí thư Xứ ủy mà đề cử đồng chí Lê Duẩn đảm nhận trách nhiệm này. Hội nghị đã nhất trí và phân công đồng chí Tôn Đức Thắngphụ trách Ủy ban Kháng chiến và chỉ đạo các lực lượng vũ trang.Câu chuyện “người ta bảo xuống thì xuống” do Đồng chí Tôn Thị Tuyết Dung- người được Bác Tôn nhận là con nuôi từ năm 1946. “Năm 1967, là năm thứ ba nhân dân ta anh dũng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc. Để phát huy vai trò của phụ nữ ở hậu phương, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ nữ (Nghị quyết 152-153/NQ). Tôi được đề bạt làm Phó ty Giáo dục tỉnh Vĩnh Phú (3 tỉnh hợp nhất: Phú Thọ + Vĩnh Yên + Phúc Yên). Tôi lo ngại không đảm đương được, một công việc quá sức mình vì địa bàn quá rộng và đang trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại rất ác liệt; bỏ gia đình, bà con để đi công tác tôi không muốn… Nhưng rồi tôi về Hà Nội để xin ý kiến Bác Tôn và các anh, chị. Khi tôi trình bày tỷ mỉ về nội dung công việc sẽ làm và những nỗi niềm băn khoăn của mình, Bác bảo:- Phó ty là gì nhỉ? À, thôi Ba biết rồi, là sous directeuse chứ gì? Được thôi, nếu tổ chức tin cậy, con làm được thì nhận, con không làm được thì từ chối. Nhưng nếu từ chối chỉ vì sợ khó, sợ khổ thì không nên mà phải cố gắng khắc phục. Và nên nhớ một điều là: khi nào người ta bảo “đồng chí không làm việc được nữa” phải xuống là con xuống nhé! Rồi Bác cười, vẫn nụ cười đôn hậu của người cha, người ông đối với con cháu.Lời dạy của Bác thật giản dị, dễ hiểu, nhưng đối với tôi là cả một bài học sâu sắc, là một phương châm sống. Tôi suy nghĩ: sẽ cố gắng để không bao giờ trở thành “hòn đá tảng” của Đảng của Tổ quốc của tổ chức và luôn luôn phấn đấu để mãi mãi sẽ không bao giờ là “vật chướng ngại” cho mọi người, mà người ta: bỏ thì thương, vương thì tội!.”Trong hơn 70 năm hoạt động cách mạng, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không chỉ kính trọng phẩm chất chính trị và tài trí của “một nhà yêu nước nhiệt thành, người cộng sản kiên cường, mẫu mực, một nhà lãnh đạo kính mến của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc nước ta”, mà còn là sự tin cậy đối với một nhân cách lớn và xứng đáng được nhân dân tin cậy là người kế tục Chủ tịch Hồ Chí Minh để lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

