CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG: NGỌN ĐUỐC CỦA LÒNG KIÊN TRUNG VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN CỦA TUỔI TRẺ (1)
Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, có những con người mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, là hiện thân của những giá trị đạo đức cao đẹp nhất. Chủ tịch Tôn Đức Thắng – người con ưu tú của đất của mảnh đất An Giang – chính là một bậc đại trí, đại dũng nhưng lại vô cùng giản dị. Cuộc đời Người không chỉ là những dấu mốc lịch sử chói lọi mà còn là một bài học nhân sinh sâu sắc, khơi dậy lòng biết ơn và trách nhiệm lớn lao trong lòng mỗi người trẻ hôm nay. Chủ tịch Tôn Đức Thắng ông
Trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, có những con người mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, là hiện thân của những giá trị đạo đức cao đẹp nhất. Chủ tịch Tôn Đức Thắng – người con ưu tú của đất của mảnh đất An Giang – chính là một bậc đại trí, đại dũng nhưng lại vô cùng giản dị. Cuộc đời Người không chỉ là những dấu mốc lịch sử chói lọi mà còn là một bài học nhân sinh sâu sắc, khơi dậy lòng biết ơn và trách nhiệm lớn lao trong lòng mỗi người trẻ hôm nay.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng ông sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 trong một gia đình nông dân khá giả tại Cù lao Ông Hổ, làng Mỹ Hòa Hưng, Tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, tỉnh An Giang). còn được gọi là Bác Tôn, là một nhà cách mạng, chính trị gia người Việt Nam. Ông là Chủ tịch nước cuối cùng của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1969 đến năm 1976. Từ năm 1976 đến năm 1980, ông là Chủ tịch nước đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cho đến khi qua đời. Trước đó, ông là Phó Chủ tịch nước (1960–1969), Quyền Chủ tịch nước (2 tháng 9 – 22 tháng 9 năm 1969) và Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955–1960).
Sau khi kế nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông trở thành Chủ tịch nước thứ 2 và cũng là Chủ tịch nước cuối cùng của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời là Chủ tịch nước đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ông cũng là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng – huân chương cao quý nhất Việt Nam.
Nhìn lại hành trình cách mạng của Bác Tôn, ta thấy đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh người thợ và khí tiết của một chiến sĩ cộng sản. Từ những ngày đầu bôn ba, dấu chân của Người đã in đậm trên chiến hạm France tại Biển Đen năm 1919. Hành động dũng cảm kéo lá cờ đỏ để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là một cử chỉ chính trị, mà là tiếng vang của một tâm hồn yêu chuộng công lý, một tinh thần quốc tế vô sản trong sáng. Năm 1920, sau cuộc binh biến, Tôn Đức Thắng bị trục xuất khỏi nước Pháp. Trở về Sài Gòn, Tôn Đức Thắng vận động những người có cùng chí hướng thành lập Công hội bí mật. Dưới sự lãnh đạo của Công hội mà đồng chí Tôn Đức Thắng là Hội Trưởng phong trào công nhân Sài Sòn- Chợ Lớn phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân ở Ba Son, tháng 8 năm 1925.
Năm 1926, đồng chí tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng. Năm 1927, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Thành bộ Sài Gòn- Chợ Lớn và Kỳ bộ Nam Kỳ. Những dấu mốc ấy đã khẳng định một chân lý: Cách mạng không phải là điều gì xa vời, mà bắt đầu từ sự giác ngộ và đoàn kết của những người lao động bình thường nhất.
Thế nhưng, sự vĩ đại của Bác Tôn còn nằm ở bản lĩnh thép trong chốn lao tù. Cuối năm 1929, đồng chí bị thực dân Pháp bắt trong vụ án Bac-bi-ê. Tòa án thực dân Pháp kết án 20 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. 15 năm bị đày ải tại Côn Đảo – "địa ngục trần gian" với những hầm xay lúa, chuồng cọp – là nơi Người đã biến những khổ hình thành bài ca chiến thắng. Giữa lằn ranh của sự sống và cái chết, Người không chỉ giữ vững khí tiết cá nhân mà còn chăm sóc, bảo vệ đồng đội bằng tình thương bao la của một người anh, người đồng chí. Sau này, khi đứng trên đỉnh cao của quyền lực với cương vị Chủ tịch nước (1969), Người vẫn sống một cuộc đời "vô ưu, vô lợi", thanh bạch đến ngỡ ngàng. Hình ảnh vị Chủ tịch nước tự tay sửa xe đạp, mặc áo kaki bạc màu hay sống trong căn nhà đơn sơ là minh chứng sống động nhất cho tư tưởng: Chức vụ càng cao, đạo đức càng phải sáng.
Đặc biệt, mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Tôn Đức Thắng là biểu tượng cao đẹp nhất của sự đoàn kết. Hai con người, một miền Bắc, một miền Nam, cùng chung một ý chí, một khát vọng độc lập. Tình bạn vĩ đại ấy là lời nhắc nhở thế hệ trẻ về sức mạnh của sự gắn kết, về chân lý "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết".
Không chỉ vĩ đại trong sự nghiệp, Bác Tôn còn khiến cả thế giới ngưỡng mộ bởi lối sống giản dị đến khiêm nhường. Dù ở cương vị Chủ tịch nước — người đứng đầu một quốc gia — Người vẫn giữ nguyên nếp sống của một người thợ: tự tay sửa xe đạp, mặc bộ quần áo kaki bạc màu, sống trong căn nhà đơn sơ. Ở Người, ta không thấy bóng dáng của sự xa hoa, quyền quý mà chỉ thấy hơi thở của nhân dân, của lao động. Đó là một nhân cách lớn được xây dựng từ những điều bình dị nhất, một minh chứng cho thấy giá trị của một con người không nằm ở chức vụ họ nắm giữ, mà ở những đóng góp và sự liêm chính mà họ để lại cho đời.
Đứng trước tầm vóc vĩ đại ấy, thế hệ trẻ hôm nay không khỏi xúc động và tự hào. Lòng biết ơn không chỉ là những đóa hoa dâng lên tượng đài của Người, mà phải được hiện thực hóa bằng nhận thức và hành động. Trong thời đại công nghệ số và hội nhập quốc tế, tinh thần tự học, cần cù và kỷ luật của Bác Tôn chính là "vũ khí" để thanh niên Việt Nam chiếm lĩnh tri thức toàn cầu. Chúng ta học ở Người lòng yêu nước không phô trương, học cách đối mặt với nghịch cảnh bằng thái độ lạc quan và ý chí bền bỉ.
Hơn bao giờ hết, thế hệ trẻ cần khắc ghi rằng: Hòa bình và độc lập hôm nay được đổi bằng máu xương và cả thanh xuân của những người đi trước như Bác Tôn. Vì vậy, trách nhiệm của chúng ta là phải sống có lý tưởng, biết cống hiến thay vì chỉ hưởng thụ, biết giữ gìn bản sắc dân tộc trước những làn sóng văn hóa ngoại lai. Mỗi bạn trẻ hãy là một "người thợ" lành nghề trong lĩnh vực của mình, góp gạch xây dựng đài hoa độc lập mà các bậc tiền nhân đã dày công vun đắp.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một tượng đài vĩnh cửu về đạo đức và lòng yêu nước, là một nhân cách lớn, một cuộc đời thầm lặng nhưng có sức lan tỏa mãnh liệt. Cuộc đời Người là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc rằng: “Chân lý là giản dị, và sự vĩ đại cũng bắt đầu từ sự giản dị”. Dù người đã đi xa, nhưng hào quang của lòng yêu nước và đạo đức trong sáng của Người vẫn mãi là kim chỉ nam cho tuổi trẻ Việt Nam. Khắc ghi công ơn của Người, thế hệ trẻ hôm nay nguyện nỗ lực hết mình để viết tiếp những trang sử vẻ vang, chúng ta nguyện hứa sẽ sống, lao động và học tập sao cho xứng đáng với tên tuổi của vị Chủ tịch kính yêu, cùng nhau xây dựng một Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong ước, đưa con tàu Việt Nam vươn xa trên biển lớn quốc tế với tinh thần kiên cường như người thợ máy Tôn Đức Thắng năm xưa.


