Khác

CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG – NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA NAM BỘ

Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888–1980) là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu của cách mạng Việt Nam. Sinh ra trên quê hương An Giang, Người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Với đức tính giản dị, khiêm nhường, trung thực và kiên trung, Chủ tịch Tôn Đức Thắng được nhân dân kính trọng gọi bằng cái tên thân thương: Bác Tôn.

Cần Thơ13/08/2026Xã An Châu (Đoàn xã An Châu)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG – NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA NAM BỘ

Ngày 20 tháng 8 năm 1888, tại cù lao Ông Hổ, tỉnh An Giang, một cậu bé ra đời trong một gia đình nông dân lao động. Cậu bé ấy chính là Tôn Đức Thắng, người sau này trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuổi thơ của Bác Tôn gắn liền với cuộc sống lao động vất vả của người dân Nam Bộ. Từ nhỏ, Người đã chứng kiến cảnh nhân dân bị áp bức, bóc lột dưới ách thực dân phong kiến. Chính những trải nghiệm ấy đã hun đúc trong Người tinh thần yêu nước và lòng thương dân sâu sắc.

Khi trưởng thành, Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn học nghề cơ khí và làm việc tại xưởng Ba Son. Tại đây, Người sớm tiếp xúc với phong trào công nhân và nhận ra sức mạnh của tinh thần đoàn kết. Năm 1925, Người tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son – một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với phong trào công nhân và cách mạng Việt Nam.

Thực dân Pháp coi Người là phần tử nguy hiểm. Năm 1929, Tôn Đức Thắng bị bắt và đày ra nhà tù Côn Đảo. Suốt 16 năm nơi địa ngục trần gian, Người phải chịu đựng xiềng xích, lao dịch và nhiều cực hình. Nhưng dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu, Người vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, bí mật tổ chức học tập, động viên anh em tù nhân và nuôi dưỡng niềm tin vào thắng lợi của cách mạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tôn Đức Thắng được trở về với nhân dân. Người đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với phong cách gần gũi, chân thành và tận tụy, Người luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là công nhân, nông dân và đồng bào miền Nam.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Tôn Đức Thắng được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời khắc đất nước còn chia cắt và chiến tranh vô cùng ác liệt, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh cho đến ngày toàn thắng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Đó là niềm vui lớn lao mà Bác Tôn luôn mong đợi suốt cuộc đời hoạt động cách mạng. Sau khi nước nhà thống nhất, Người tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch nước, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng đất nước sau chiến tranh.

Điều khiến nhân dân đặc biệt kính yêu Bác Tôn không chỉ là những cống hiến to lớn, mà còn là đạo đức mẫu mực. Dù giữ cương vị cao nhất của Nhà nước, Người vẫn sống giản dị, tiết kiệm, chân thành và khiêm nhường. Bác luôn coi mình là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Ngày 30 tháng 3 năm 1980, Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần, hưởng thọ 92 tuổi. Sự ra đi của Người để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng đồng bào cả nước, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ và quê hương An Giang.

Ngày nay, khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng tại cù lao Ông Hổ trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho các thế hệ trẻ. Cuộc đời của Bác là tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự kiên trung trước gian khổ và đức tính cần, kiệm, liêm, chính.

CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG ĐÃ DÀNH TRỌN CUỘC ĐỜI CHO NHÂN DÂN VÀ TỔ QUỐC. TÊN TUỔI VÀ TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI SẼ MÃI MÃI TỎA SÁNG TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ TRONG TRÁI TIM CỦA NHÂN DÂN AN GIANG NÓI RIÊNG, CẢ NƯỚC NÓI CHUNG.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn