Bài viết

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời - suốt đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quê hương An Giang tự hào sinh ra người con ưu tú của dân tộc, người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, người chiến sĩ trung kiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế: Đồng chí Tôn Đức Thắng - Bác Tôn.

An Giang11/04/2026Đoàn xã Cù Lao Giêng (Đoàn xã Cù Lao Giêng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời

Trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu Bác Tôn, đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã khẳng định đồng chí Tôn Đức Thắng “là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta, là một trong những người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Từ một học sinh học nghề thợ tại Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã nhanh chóng hòa mình vào các phong trào yêu nước của Nhân dân khi ấy: Tham gia cuộc bãi công của học sinh Trường Bá nghệ Sài Gòn và công nhân nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son vào năm 1912.

Những ngày bị bắt đi lính trong một đơn vị hải quân Pháp - năm 1919, trên Biển Đen, Tôn Đức Thắng kéo lá cờ phản chiến chống lại cuộc can thiệp của đế quốc Pháp vào Nhà nước Xô Viết non trẻ, trở thành một trong những người Việt Nam đầu tiên trực tiếp tham gia đấu tranh để ủng hộ Nhà nước Xô viết.

Trở về Sài Gòn những năm hai mươi của thế kỷ XX, Tôn Đức Thắng trực tiếp lãnh đạo và xây dựng những cơ sở Công hội bí mật. Cuộc bãi công của công nhân Ba Son tháng 8/1925 nổ ra do chính Tôn Đức Thắng lãnh đạo. Người là một trong những công nhân đầu tiên nhận ra chân lý của con đường cách mạng vô sản.

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời Bác Tôn chính là năm 1926, nhận được chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Người đã gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Chỉ 1 năm sau được bầu vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam kỳ; trực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn.

Năm 1929, khi phong trào cách mạng đang phát triển mạnh, Tôn Đức Thắng bị giặc bắt. Trải qua bao cực hình tra tấn, Người vẫn làm cho kẻ thù thất bại trước khí phách kiên cường bất khuất của mình. Chế độ lao tù hà khắc không giam được lòng nhiệt huyết, trái tim của những người cộng sản quyết chí chọn con đường đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của đồng bào.

Tôn Đức Thắng đã cùng đồng chí thành lập chi bộ đặc biệt trong nhà tù, lãnh đạo họ tiếp tục đấu tranh, gửi trọn niềm tin vào Đảng quang vinh, vào ngày thắng lợi của dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công, cùng những đồng chí sống sót qua ngục tù Côn Đảo, Tôn Đức Thắng được đón về đất liền để tiếp tục con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.

Là đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (1946), trên đoàn Chủ tịch Quốc hội, người chiến sĩ Tôn Đức Thắng nhân danh Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố tín nhiệm hoàn toàn cụ Hồ Chí Minh đứng ra thành lập Chính phủ mới. Đây là lời tuyên bố của lịch sử, của đồng bào cả nước, tin tưởng tuyệt đối vào lãnh tụ Hồ Chí Minh và sẵn sàng cho một cuộc trường kỳ kháng chiến để giành lại những quyền thiêng liêng cơ bản của con người.

Gánh trên vai nhiều trọng trách, trải qua rất nhiều cương vị, nhưng dù ở cương vị nào, Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng luôn nêu cao phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với dân tộc, với Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân. Không muốn sống khác đồng bào, đồng chí, nên cuộc sống đời thường của Bác Tôn giản dị, thanh bạch. Là Chủ tịch nước, nhưng Bác vẫn mặc áo cũ nối thêm tay, bởi theo Bác: “Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân mới có đủ cơm ăn”. Ngoài giờ làm việc, Bác vẫn chân đất, quần cộc bên đống đồ nghề tự chữa đồ đạc, xe đạp cho con cháu và cả những người phục vụ của mình. Đi công tác nước ngoài, Bác chỉ mua tặng vợ chiếc cối xay tiêu.

Khi mất, Bác dặn con cháu trả lại nhà cho Nhà nước để chuyển đến chỗ ở đúng với tiêu chuẩn của mình... Là người Việt Nam đầu tiên được nhận Giải thưởng Lê-nin “Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc”, số tiền thưởng kèm theo giải thưởng vô cùng lớn, nhưng Bác trao lại toàn bộ cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để xây dựng cơ sở phúc lợi vui chơi giải trí cho thiếu nhi.

Ngày 19/8/1958, nhân dịp Bác Tôn tròn 70 tuổi, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định trao tặng Huân chương Sao vàng. Trong buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng: “Thưa lão đồng chí, hôm nay, chúng tôi rất sung sướng chúc mừng đồng chí 70 tuổi. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, suốt 50 năm đã không ngừng hoạt động cách mạng. 17 năm bị thực dân Pháp cầm tù, 9 năm tham gia lãnh đạo kháng chiến, 4 năm phấn đấu để gìn giữ hòa bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: Suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ Nhân dân.

Thay mặt Nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng là Huân chương cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy”.

Cuộc đời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là cuộc đời của một người cộng sản chân chính đã theo đuổi lý tưởng và đi trọn trên hành trình lý tưởng vì độc lập của đất nước, hạnh phúc của Nhân dân. Cuộc đời Bác Tôn là hiện thân của đạo đức cách mạng: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Bác Tôn sinh ngày 20/8/1888 tại Cù lao Ông Hổ thuộc làng An Hòa, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong một gia đình nông dân. Truyền thống gia đình, quê hương, đất nước đã nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ham học và tinh thần đoàn kết [1].

Trong giai đoạn 1906-1916, sau khi tốt nghiệp tiểu học, Bác Tôn Đức Thắng đến Sài Gòn để tự lập và theo đuổi nghề thợ, tham gia phong trào công nhân và trở thành thủ lĩnh tổ chức, đã phản đối và đấu tranh chống bạo hành, áp bức từ chủ sở hữu. Giai đoạn từ năm 1916 đến 1920, Bác Tôn Đức Thắng tham gia cuộc nổi dậy của thuỷ thủ Pháp tại Biển Đen để bảo vệ cách mạng Tháng Mười Nga. Là công nhân quốc phòng trên chiến hạm Phơrăngxơ và đã tổ chức phản chiến chống chủ nghĩa tư bản. Bác Tôn Đức Thắng cùng nhóm thuỷ thủ Pháp yêu cầu chấm dứt can thiệp vào Nga và ủng hộ cách mạng Nga bằng cách kéo cờ đỏ trên chiến hạm, thể hiện tinh thần yêu nước và ủng hộ cách mạng. Giai đoạn 1920-1930, Bác Tôn Đức Thắng trở về Sài Gòn và thành lập Công hội bí mật. Giai đoạn 1929-1945, Bác Tôn Đức Thắng bị bắt bởi đế quốc Pháp và bị kết án tù khổ sai. Bác cùng các chiến sĩ cộng sản khác tận dụng thời gian trong tù để học tập và hội họp. Chính sách khủng bố của Pháp không ngăn trở được cách mạng. Từ 1945-1954, Bác Tôn Đức Thắng tham gia cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà hoạt động cách mạng khác, lãnh đạo cuộc kháng chiến kiến quốc. Tham gia nhiều hoạt động quốc tế và đưa ra những thông điệp về độc lập và hoà bình. Giai đoạn này, Bác Tôn Đức Thắng ghi dấu ấn quan trọng tại Tuyên Quang và làm việc tại nhiều địa điểm như Đồng Man - Lũng Tẩu, xã Tân Trào, ngòi Khoác, xã Trung Yên, huyện Sơn Dương; thị trấn Vĩnh Lộc, xã Kim Bình, xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa. Thời gian dài nhất Bác Tôn Đức Thắng làm việc tại thôn Chi Liền, xã Trung Yên, từ cuối năm 1952 đến đầu tháng 10 năm 1954. Tại Tuyên Quang, Bác Tôn Đức Thắng đảm nhận nhiều vị trí quan trọng như Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Trưởng ban vận động Thi đua ái quốc Trung ương… Bác Tôn Đức Thắng đã phát động phong trào thi đua nhằm động viên lực lượng tham gia kháng chiến và kiến quốc, cùng với việc thúc đẩy sản xuất và giáo dục.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Tôn Đức Thắng có 7 năm sống và làm việc tại nhiều địa điểm khác nhau ở tỉnh Tuyên Quang. Trong những năm tháng ấy, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà hoạt động cách mạng khác, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng của Ban Thường trực Quốc hội và Mặt trận Liên Việt, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta.

Cuối tháng 7-1954, Chủ tịch Tôn Đức Thắng cùng với hai cơ quan Quốc hội và Mặt trận Liên Việt rời Tuyên Quang qua Thái Nguyên về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, tiếp tục cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận lãnh đạo Nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng là biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước, đức hy sinh, tinh thần giản dị. Ở Bác Tôn, như cách mà chúng ta vẫn gọi Người, những đức tính cao đẹp ấy được người dân trong nước và bạn bè thế giới ngưỡng vọng. Là người đầu tiên được trao tặng Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước ta, Bác Tôn hoàn toàn xứng đáng với danh vị đó, không chỉ vì những đóng góp to lớn đối với cách mạng Việt Nam mà còn tinh thần đoàn kết, tính biểu tượng cao cả của Người. Trong lễ trao tặng ngày 20/8/1958, đúng vào dịp Bác Tôn tròn 70 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, suốt 50 năm đã không ngừng hoạt động cách mạng. 17 năm bị thực dân Pháp cầm tù, 9 năm tham gia lãnh đạo kháng chiến. 4 năm phấn đấu để giữ gìn hòa bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng; suốt đời cần kiệm liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân [2].

Với 92 năm tuổi đời, gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, Chủ tịch Tôn Đức Thắng được Đảng, Nhà nước phân công giữ nhiều trọng trách quan trọng, trong đó có 9 năm làm Phó Chủ tịch nước (1960-1969), 11 năm làm Chủ tịch nước (1969-1980), 26 năm liên tục làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1951-1977) và nhiều trọng trách quan trọng khác. Ở bất cứ cương vị nào, Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng nêu tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tụy phấn đấu quên mình để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó.

Sự cống hiến của chủ tịch Tôn Đức Thắng không dừng lại ở Việt Nam, mà lan tỏa ra thế giới. Người đại diện cho chính sách đoàn kết của Đảng và là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết dân tộc Việt Nam. Thể hiện tình yêu quê hương và lòng yêu nước thông qua việc ủng hộ nước Nga Xô Viết trong cuộc nổi dậy của hải quân Pháp tại Biển Đen. Bác Tôn Đức Thắng không chỉ là một nhà lãnh đạo xuất sắc mà còn là một con người đạo đức và tận tụy. Luôn đấu tranh và hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là bài học về lòng trung thành, khiêm tốn, kiên định và tinh thần anh dũng.

Kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, không chỉ đơn thuần là gợi lại những trang sử vinh quang, mà còn là câu chuyện về sự cống hiến, trải qua những hình ảnh chân thực về tình yêu quê hương và sự hy sinh không biên giới. Chủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ là một hình mẫu lãnh đạo, mà còn là biểu tượng của sự hiến dâng và lòng tự hào dân tộc. Những nét đẹp đẽ và tinh thần lớn lao của Chủ tịch Tôn Đức Thắng sẽ tiếp tục tỏa sáng và truyền cảm hứng cho thế hệ hôm nay và mai sau, để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn