Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Nhà lãnh đạo yêu nước, thương dân
Nguyễn Diệu Linh
uộc đời Tôn Đức Thắng kéo dài qua nhiều giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam. Từ thời kỳ đất nước còn là thuộc địa, qua Cách mạng Tháng Tám, hai cuộc kháng chiến và những năm đầu xây dựng đất nước sau thống nhất, Người luôn có mặt và đóng góp ở những vị trí quan trọng.
Từ năm 1906, khi bắt đầu học nghề và làm việc ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng đã lựa chọn gắn bó với người lao động. Người không đứng ngoài những khó khăn của công nhân mà trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh.
Năm 1925, Người gắn liền với cuộc bãi công Ba Son. Sau đó, Tôn Đức Thắng tiếp tục hoạt động cách mạng và bị bắt, đày ra Côn Đảo. Sau năm 1945, Người lại trở về đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong Đảng, Nhà nước và Mặt trận. Điểm xuyên suốt trong quá trình ấy là tinh thần trách nhiệm. Tôn Đức Thắng không coi một nhiệm vụ nào là nhỏ nếu nhiệm vụ đó phục vụ lợi ích chung. Từ công tác Mặt trận đến Quốc hội, từ hoạt động đối ngoại đến cương vị Chủ tịch nước, Người đều làm việc với tinh thần tận tụy.
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đánh giá Tôn Đức Thắng là một tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự tận tụy với sự nghiệp cách mạng, đồng thời nhấn mạnh những phẩm chất khiêm tốn, giản dị và được nhân dân kính trọng. Tấm gương của Người gợi cho thế hệ hôm nay suy nghĩ về trách nhiệm cá nhân. Một người có thể đóng góp cho cộng đồng bằng nhiều cách khác nhau. Điều quan trọng là phải làm việc nghiêm túc và có trách nhiệm với những gì mình được giao.
Tôn Đức Thắng đã dành phần lớn cuộc đời cho đất nước. Khi tuổi cao, Người vẫn tiếp tục đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch nước.
Di sản lớn nhất của Người vì thế không chỉ là những thành tựu cụ thể mà còn là tinh thần tận tụy. Đó là một giá trị bền vững, có thể truyền cảm hứng cho mỗi người trong học tập, lao động và phục vụ cộng đồng.


