Khác

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Nhà lãnh đạo yêu nước, thương dân

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sản kiên trung, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời - suốt đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

An Giang22/08/2026Trường Ngoại ngữ - ĐHTN (Trường Ngoại ngữ - ĐHTN)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cách đây 136 năm, ngày 20/8/1888, Chủ tịch Tôn Đức Thắng được sinh ra trong một gia đình nông dân ở Cù lao Ông Hổ, làng An Hòa, tổng Định Thành Hạ, hạt Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Thân phụ là cụ Tôn Văn Đề và thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Dị, đều là những nông dân cần cù, hiền lành, chất phác.

TẤM LÒNG YÊU NƯỚC, THƯƠNG DÂN SÂU SẮC

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng sôi nổi, phong phú, đầy gian lao, thử thách và vinh quang của Chủ tịch Tôn Đức Thắng mà đồng bào, đồng chí trìu mến gọi là Bác Tôn gắn liền với lịch sử đấu tranh oanh liệt của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Là người con ưu tú của quê hương An Giang giàu truyền thống yêu nước anh hùng và cách mạng, ngay từ khi còn là học sinh, Đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia phong trào yêu nước chống thực dân Pháp. Trong những năm tháng tuổi trẻ bôn ba ở nước ngoài, hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, Đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy của Hải quân Pháp ở Biển Đen ngày 20/4/1919, ủng hộ cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, chống sự can thiệp vũ trang của các nước đế quốc đối với Nhà nước Xô-viết non trẻ, góp phần bảo vệ thành trì của cách mạng vô sản thế giới.

Năm 1920, Bác Tôn đã bí mật tổ chức, tập hợp lực lượng công nhân, thành lập Công hội bí mật với mục đích là đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và đấu tranh chống áp bức bóc lột của chính quyền thực dân, bênh vực quyền lợi của công nhân, từng bước chuyển phong trào công nhân Việt Nam từ giai đoạn “tự phát” sang giai đoạn “tự giác”, tạo nên cơ sở xã hội quan trọng để giai cấp công nhân vươn lên tiếp nhận học thuyết cách mạng, khoa học, tiên tiến của thời đại.

Những năm tháng bị tù đày gian khổ trong ngục tù đế quốc, lòng yêu nước, thương dân không ngừng được hun đúc trong con người Tôn Đức Thắng với đức hy sinh và tình thương yêu đối với đồng chí, anh em. Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng chân chính, gần gũi, phương pháp thuyết phục, sự quan tâm chăm sóc sức khỏe các bạn tù, đồng thời vững vàng, gan góc trước bọn cai ngục, thậm chí sẵn sàng che thân hứng chịu những trận đòn roi tàn bạo của kẻ thù để che chở cho đồng chí, đồng đội đã tạo sự cảm phục, tin yêu đối với tù nhân. Đồng chí đã tổ chức sáng lập Chi bộ đặc biệt ở Nhà tù Côn Đảo và trở thành một trong những người lãnh đạo của các tù nhân Côn Đảo. Cùng với các chiến sĩ cộng sản khác, Đồng chí đã tích cực đấu tranh đòi cải thiện điều kiện sinh hoạt và biến chốn lao tù đế quốc tăm tối, tàn bạo thành trường học cách mạng.Cách mạng Tháng Tám thành công, từ nhà tù Côn Đảo trở về, vừa đặt chân lên đất liền, Bác Tôn đã tham gia ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tháng 3/1946, Bác Hồ và Chính phủ đón Bác Tôn ra Hà Nội. Bác được Đảng, Nhà nước phân công đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng: Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Chủ tịch Hội Việt - Xô hữu nghị, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới, Phó Chủ tịch nước. Ngày 22/9/1969, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa III, Đồng chí được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội thống nhất vào tháng 7/1976, Đồng chí được bầu làm chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng chí từ trần ngày 30/3/1980 tại thủ đô Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

NHÀ LÃNH ĐẠO MẪU MỰC, NGHĨA TÌNH VÀ LIÊM KHIẾT

Bác Hồ từng dạy: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa” và chính Bác Tôn đã lĩnh hội chủ nghĩa Mác - Lênin theo tinh thần nhân văn cao cả đó: Bác thương những người ruột thịt trong gia đình, bà con hàng xóm, thương những người thợ cùng làm, cùng cảnh ngộ, thương đồng bào bị bóc lột, đàn áp; sống chí tình, chí nghĩa với đồng chí, bạn bè.

Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khẳng định: Bác Tôn muốn sống như một con người thật bình thường. Chính vì thế, Bác Tôn vĩ đại... Bác thích một vị trí đảng viên cộng sản như mọi đảng viên, thích vị trí công dân trung thực, lương thiện, cố mang điều tốt, cố mang niềm vui, cố giảm nỗi đau cho đồng bào. Nhớ Bác Tôn, nhớ bài học mà Bác lấy cả đời mình làm mẫu, chính là tìm cái vĩ đại trong cái bình thường của một con người coi như đơn giản mà cực kỳ phức tạp khó khăn đối với những ai nắm quyền trong tay.

Trải qua nhiều trọng trách được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, Bác Tôn là tấm gương mẫu mực về tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng kiên cường, lòng trung thành, tận tụy; đạo đức trong sáng, mẫu mực, đức tính khiêm tốn, giản dị; tình thương yêu đồng chí, đồng bào; tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và tình đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng.

Trên cương vị Chủ tịch nước, dù bận rất nhiều công việc, Bác Tôn vẫn quan tâm thăm hỏi, động viên các đồng chí thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Hằng năm, vào dịp Ngày thương binh, liệt sĩ 27/7, Bác thường gửi thư thăm hỏi ân cần đến các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội. Bác động viên anh em yên lòng chữa bệnh và nhắc nhở cán bộ, nhân viên điều trị hết lòng chăm sóc, chữa bệnh cho anh em thương binh, bệnh binh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn