Bài viết

Chủ tịch Tôn Đức Thắng - tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và tinh thần đại đoàn kết

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu, người chiến sĩ cộng sản kiên trung và là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

An Giang07/08/2026Phường Kon Tum (Đoàn phường Kon Tum)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

hủ tịch Tôn Đức Thắng – Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và tinh thần đại đoàn kết dân tộc

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu, người chiến sĩ cộng sản kiên trung và là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Cuộc đời hơn 90 năm của Bác Tôn gắn liền với những chặng đường vẻ vang của cách mạng Việt Nam, từ phong trào công nhân, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dù ở bất kỳ cương vị nào, Bác luôn thể hiện phẩm chất của một người lãnh đạo tận tụy, khiêm tốn, giản dị và hết lòng vì nhân dân.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 tại Cù lao Ông Hổ, nay thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, trong một gia đình trung nông giàu truyền thống yêu nước. Ngay từ khi còn trẻ, Bác đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước, ý chí tự lập và năng khiếu về cơ khí. Năm 1907, Bác lên Sài Gòn học nghề và làm công nhân, nhanh chóng trở thành hạt nhân lãnh đạo các phong trào đấu tranh của học sinh và công nhân, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân Ba Son năm 1912. Sau đó, Bác làm việc trên chiến hạm France của Hải quân Pháp và năm 1919 đã cùng nhiều thủy thủ kéo cờ đỏ phản chiến trên Biển Đen để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Hành động dũng cảm ấy không chỉ thể hiện tinh thần quốc tế vô sản mà còn đánh dấu bước trưởng thành trong tư tưởng cách mạng của người công nhân Việt Nam.

Những năm cuối thập niên 1920, Bác tích cực hoạt động trong phong trào cách mạng tại Nam Kỳ. Năm 1929, Bác bị thực dân Pháp bắt và kết án 20 năm tù khổ sai, bị đày ra Côn Đảo. Mười lăm năm trong ngục tù khắc nghiệt không làm lung lay ý chí của người chiến sĩ cách mạng. Trái lại, Bác đã biến nhà tù thành nơi giáo dục, cảm hóa những người cùng cảnh ngộ, truyền bá tinh thần yêu nước, tổ chức liên lạc giữa các tù nhân và góp phần xây dựng tổ chức Đảng ngay trong lao tù. Chính trong hoàn cảnh gian khổ ấy, phẩm chất kiên cường, lòng nhân ái và bản lĩnh của Bác càng được khẳng định.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vừa rời khỏi nhà tù Côn Đảo, Bác Tôn lập tức tham gia sự nghiệp kháng chiến mà chưa kịp trở về đoàn tụ với gia đình. Hình ảnh ấy đã trở thành biểu tượng của tinh thần “vì nước quên nhà”, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Trong suốt hơn ba thập kỷ sau đó, Bác đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng như Tổng Thanh tra Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chủ tịch nước. Trên mọi cương vị, Bác đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng và sự nghiệp xây dựng đất nước.

Một trong những đóng góp nổi bật của Chủ tịch Tôn Đức Thắng là xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với cương vị lãnh đạo Mặt trận Liên Việt và sau này là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác luôn nhấn mạnh rằng đoàn kết là sức mạnh quyết định thắng lợi của cách mạng. Bác không quản ngại gian khổ, đi đến nhiều địa phương để gặp gỡ đồng bào, nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo và các tầng lớp nhân dân nhằm tăng cường sự đồng thuận, thống nhất ý chí và hành động. Theo Bác, muốn đoàn kết toàn dân thì trước hết Đảng phải thật sự đoàn kết, trong sạch và gương mẫu. Quan điểm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Không chỉ tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết trong nước, Chủ tịch Tôn Đức Thắng còn là hiện thân của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Ngay từ hành động kéo cờ đỏ trên chiến hạm Pháp năm 1919, Bác đã thể hiện tinh thần đoàn kết với phong trào cách mạng thế giới. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác luôn vun đắp tình hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc yêu chuộng hòa bình. Những đóng góp to lớn ấy đã được bạn bè quốc tế ghi nhận và Bác trở thành người Việt Nam đầu tiên được trao Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lênin.

Điều làm nên sự kính trọng đặc biệt của nhân dân đối với Chủ tịch Tôn Đức Thắng không chỉ là những cống hiến lớn lao mà còn là phẩm chất đạo đức mẫu mực. Bác sống giản dị, khiêm nhường, cần, kiệm, liêm, chính và luôn gần gũi với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định Bác Tôn là người suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng và phục vụ nhân dân, xứng đáng là người đầu tiên được trao tặng Huân chương Sao Vàng – phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hơn sáu mươi năm hoạt động cách mạng không ngừng nghỉ, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã để lại một di sản vô cùng quý báu cho dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là biểu tượng của lòng yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần đoàn kết và đạo đức cách mạng trong sáng. Đến hôm nay, những giá trị ấy vẫn luôn là nguồn động lực, là tấm gương để mỗi cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ Việt Nam học tập, noi theo, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh và phát triển.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn