Khác

Chu Văn An: "Ngôi sao sáng nhất trên bầu trời văn hiến Việt Nam"

Nguyễn Văn Hà

Hà Nội22/08/2026phường Hải Dương (Phường Hải Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Danh nhân Chu Văn An: "Ngôi sao sáng nhất trên bầu trời văn hiến Việt Nam"

Không chỉ là người có kiến thức uyên thâm, nhân cách cương trực, thanh cao, từng dâng "Thất trảm sớ" lưu danh thiên cổ, danh nhân Chu Văn An còn là nhà sư phạm kiệt xuất, "ngôi sao sáng nhất trên bầu trời văn hiến Việt Nam". Tên tuổi của ông đã đi vào lịch sử dân tộc như một bậc nho học tiêu biểu của Việt Nam, một tấm gương sáng về đạo làm người, đạo làm thầy, với danh xưng “Vạn Thế Sư Biểu” - “Người Thầy của muôn đời”.

* Nhà sư phạm kiệt xuất

Danh nhân Chu Văn An, tên tự Linh Triệt, tên hiệu Tiều Ẩn, sinh tại làng Quang, thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Tuy xuất thân trong một gia đình bình thường nhưng cậu bé Chu Văn An được mẹ là bà Lê Chiêm lo cho ăn học chu đáo. Vốn thông minh, hiếu học, nên cậu học rất giỏi, “học vấn tinh thuần, tiếng đồn gần xa”. Khi đỗ Thái học sinh (học vị Tiến sĩ thời nhà Trần), ông không ra làm quan mà mở trường dạy học ở quê nhà, mong mỏi đào tạo nên những thế hệ học trò có đủ tài đức để đóng góp cho đất nước.

Tâm huyết với nghề dạy học, không màng danh lợi, Chu Văn An bắt đầu sự nghiệp với một mái tranh đơn sơ ở làng Huỳnh Cung, giáp với làng Quang quê mẹ. Tuy là trường ở làng quê, nhưng cũng có thư viện, thầy Chu dạy học trò từ hạng ấu học, mộng học, trung tập và đại tập (tương đương với vỡ lòng, tiểu học, trung học và đại học). Tùy theo mỗi hạng, thầy Chu có cách dạy khác nhau. Nghe danh thầy Chu tài năng và đức độ, học trò khắp nơi tìm về trường Huỳnh Cung theo học rất đông.

Bên cạnh việc giảng dạy về kiến thức, thầy còn chú trọng rèn luyện học trò về đạo lý sống, nhân cách làm người và hơn cả là giúp mỗi học sinh thấy được trách nhiệm của mình đối với nhân dân, đất nước. Trường Huỳnh Cung của thầy đã đào tạo được rất nhiều học trò giỏi. Khoa thi năm 1314, dưới thời vua Trần Minh Tông, trường có hai học trò đỗ Thái học sinh là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh, cả hai đều làm quan dưới triều Trần (Lê Quát được thăng đến chức Thượng thư).

Thầy Chu Văn An luôn tâm niệm: muốn dạy bảo trò tốt thì thầy phải nghiêm, phải luôn là tấm gương đạo đức cho học trò. Những học trò do thầy Chu Văn An đào tạo, dù làm quan to hay vinh hiển đến mức độ nào cũng luôn dành cho thầy một sự tôn kính và lễ độ. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép lại việc các đại quan trong triều là học trò của thầy vẫn giữ lễ, khi đến thăm thầy thì lạy, được tiếp chuyện với thầy thì lấy làm vui mừng. Ngược lại, có những học trò làm đến quan to nhưng không giữ được phẩm hạnh “thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la thét không cho vào”. Sự chính trực, nghiêm minh này càng khiến ông được học trò kính mến, quý trọng.

Đến thời vua Trần Minh Tông, ông được mời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng), trông coi việc học của cả nước và trực tiếp giảng dạy cho hai Thái tử, hai vị vua tương lai sau này, là Hoàng Thái tử Trần Vượng (sau là vua Trần Hiến Tông) và Thái tử Trần Hạo (vua Trần Dụ Tông). Thầy Chu Văn An luôn tâm niệm rằng, dạy dỗ một ông vua tương lai thành một đấng minh quân sẽ đem lại lợi ích cho đất nước. Chính vì vậy, Trần Hiến Tông khi ở ngôi vua “không có việc làm lầm lỗi”, bởi “có bầy tôi hiền giúp việc chính sự, trên dưới đều cùng nhau sửa sang” (theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của nhà sử học Phan Huy Chú).

Bên cạnh đó, ông còn chăm lo việc mở mang Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ông chính là người biên soạn: “Tứ thư thuyết ước”, tóm tắt 4 bộ sách lớn là: “Luận ngữ”, “Mạnh tử”, “Đại học”, “Trung dung” làm giáo trình giảng dạy trong trường. Đây được coi như bộ sách giáo khoa giảng dạy Nho giáo của người Việt Nam.

Có thể nói, với hơn 30 năm ở cương vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám, đảm nhiệm từ việc dạy dỗ các Thái tử đến việc viết sách giáo khoa, các chương trình giảng dạy, đề xuất các tiêu chí lựa chọn người vào học, thi cử để đào tạo và tuyển chọn nhân tài cho đất nước, những cống hiến của Chu Văn An với sự nghiệp giáo dục của nước nhà quả là "không ai sánh bằng".

* Ngôi sao sáng lưu danh thiên cổ

Đến thời vua Trần Dụ Tông, chứng kiến chính sự rối ren, gian thần lộng hành, Chu Văn An dâng "Thất trảm sớ” xin vua trừng trị bảy gian thần lộng hành triều đình. Tuy nhiên, “Thất trảm sớ” không được vua Dụ Tông chấp nhận, Chu Văn An bèn treo ấn từ quan, về sống ẩn dật ở vùng núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu Tiều Ẩn (nghĩa là người đi ẩn hái củi) tiếp tục sự nghiệp "trồng người". Mặc dù về nơi xa ở ẩn nhưng học trò của ông đến xin học không hề giảm. Bởi với ông, việc dạy học phải dành cho tất cả mọi người: "việc dạy dỗ thành nhân không phân biệt người đến học thuộc loại nào".

Không chỉ dạy học, thầy Chu còn trồng cây thuốc, nghiên cứu y học, chữa bệnh cho dân và làm thơ, viết sách. Sử sách còn ghi lại tên những cuốn sách của ông, bao gồm: “Y học yếu giải”, “Quốc ngữ thi tập”, “Tiều Ẩn thi tập” và một số tác phẩm thơ ca bằng cả chữ Hán và chữ Nôm… Thơ ông tràn ngập tình yêu thiên nhiên, đất nước, cùng nỗi niềm tâm sự đối với non sông, đất nước và ý thức của kẻ sỹ đối với thời cuộc.

Tuy nhiều lần được vua Trần Dụ Tông và sau này là Trần Nghệ Tông mời trở về triều nhưng ông đều từ chối. Mặc dù vậy, với tấm lòng yêu nước thương dân nên mỗi khi có triều hội, ông vẫn về kinh tham dự. Lúc đã 77 tuổi, khi vua Trần Nghệ Tông dẹp loạn Dương Nhật Lễ, ông cũng chống gậy về Thăng Long chúc mừng, rồi lại quay về Chí Linh, lấy cớ là già nua đau yếu để từ chối chức tước. Không lâu sau, Chu Văn An ốm và từ trần ngày 14/12/1370, thọ 79 tuổi.

Trân trọng tài năng, nhân cách và sự cống hiến lớn của ông, vua Nghệ Tông đã truy tặng tước hiệu Văn Trinh Công, ban tên thụy là Khánh tiết và đưa vào thờ tại Văn Miếu, nơi thờ tự của các bậc thánh hiền. Đây là sự tôn vinh bậc nhất mà một triều đại quân chủ dành cho một học giả-thầy giáo.

Tên tuổi của ông đi vào lịch sử dân tộc như một bậc nho học tiêu biểu của nước Việt, một tấm gương sáng về đạo làm người, đạo làm thầy và đạo học. Nói về Chu Văn An, “Đại Việt sử ký toàn thư” có chép: “Tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, biết giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc”. Còn nhà sử học Phan Huy Chú đã ca ngợi Chu Văn An là “Làng nho nước Việt, trước sau chỉ có một ông, các người khác không ai so sánh được”.

Tưởng nhớ tới đạo đức và sự nghiệp của ông, nhiều nơi trong nước có di tích thờ phụng ông, như: đền Thanh Liệt, đền Huynh Cung, đền Văn Điển và đền Phượng Sơn ở Chí Linh, Hải Dương, nơi ông về sống ẩn và dạy học, ở nơi đây có dựng cột đá khắc 8 chữ: "Chu Văn Trình tiên sinh ẩn cư xứ". Nhân dân Thủ đô cũng lấy tên ông để đặt tên cho một đường phố và một trường trung học lớn của Hà Nội.

Tháng 11/2019, Chu Văn An được Đại hội đồng UNESCO thế giới vinh danh và ra Nghị quyết cùng Việt Nam kỷ niệm 650 năm ngày mất vào năm 2020. Cùng với Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Đại thi hào Nguyễn Du, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thầy Chu Văn An là người Việt Nam thứ tư được UNESCO vinh danh. Đây là sự khẳng định mang tầm quốc tế đối với tài năng, tầm ảnh hưởng của danh nhân văn hóa Chu Văn An nói riêng và những giá trị văn hóa, giáo dục của Việt Nam nói chung.

Có thể nói, danh nhân Chu Văn An là tấm gương tiêu biểu và toàn diện cho các thế hệ nhà giáo muôn đời sau noi theo. Đúng như nhà sử học Phan Huy Chú đã từng ngợi ca sự nghiệp có ý nghĩa “vượt thời đại” của thầy Chu Văn An là: “làm thầy giáo giỏi của một đời, để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời”... ./.

Hoàng Yến (tổng hợp)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn