Chu Văn Khâm – Người lính công binh giữa những cung đường bom đạn
Phạm Anh Thư
Chu Văn Khâm sinh năm 1925, quê ở tỉnh Vĩnh Phúc. Sinh ra trong một gia đình nghèo, tuổi thơ của đồng chí gắn với những ngày tháng đi ở, làm thuê cho địa chủ. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chu Văn Khâm tham gia lực lượng du kích và công an xã, từ đó từng bước bước vào con đường hoạt động cách mạng.
Tháng 8-1947, Chu Văn Khâm xung phong nhập ngũ. Được biên chế vào đơn vị bộ binh, đồng chí trực tiếp tham gia nhiều trận chiến và luôn thể hiện tinh thần gan dạ, mưu trí, chủ động tiến công. Trong chiến đấu, Chu Văn Khâm đã diệt 22 tên địch, phá hủy một lô cốt, một xe tăng quân sự và nhiều lần dùng bộc phá phá hàng rào phòng thủ của đối phương.
Từ năm 1950 đến tháng 7-1954, Chu Văn Khâm được điều động sang đơn vị công binh. Công việc của đồng chí trải rộng từ phá cầu, chặn đường tiếp viện của địch, làm đường, chở phà phục vụ bộ đội hành quân đến phá bom, bảo đảm giao thông vận tải cho các chiến dịch. Dù nhiệm vụ nào, Chu Văn Khâm cũng luôn tìm cách phát huy sáng kiến, không lùi bước trước khó khăn, nguy hiểm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.
Tháng 1-1953, Chu Văn Khâm cùng đồng đội nhận nhiệm vụ quan sát và phá bom tại đèo Khế, một vị trí quan trọng trên tuyến vận chuyển phục vụ chiến dịch. Máy bay địch liên tục ném bom nhằm phá cầu đường, gây ách tắc giao thông. Khi ấy, đơn vị chưa có kinh nghiệm xử lý bom nổ chậm. Trước tình hình đó, Chu Văn Khâm chủ động xin nghiên cứu và tháo quả bom đầu tiên. Ông đã thành công, từ đó kinh nghiệm phá bom nhanh chóng được phổ biến cho các lực lượng đang làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông vận tải trên các tuyến đường.
Công việc phá bom luôn đặt người lính công binh trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Với những quả bom đặc biệt nguy hiểm, Chu Văn Khâm thường xung phong nhận phần việc khó về mình, tìm mọi cách vô hiệu hóa chúng để bảo đảm an toàn cho đồng đội và thông đường cho bộ đội. Có lần, một quả bom nổ chậm nằm sâu tới 4m dưới lòng đất, tạo thành một hố chỉ vừa đủ cho một người chui xuống. Không do dự, Chu Văn Khâm trực tiếp xuống hố để xác định vị trí quả bom, nghiên cứu cách xử lý rồi tìm cách phá thành công. Con đường nhanh chóng được thông tuyến, các đơn vị vận tải tiếp tục vượt qua khu vực nguy hiểm an toàn, kịp thời phục vụ chiến dịch.
Trong nỗ lực ngăn chặn bước tiến của quân ta, quân đội Pháp tập trung máy bay đánh phá dữ dội các tuyến giao thông và những nơi chúng nghi ngờ là tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí vào mặt trận. Navarre từng ra lệnh cho không quân của chúng: “Tập trung đánh phá giao thông vận tải, đặc biệt là các ô tô vận tải và các đường giao thông của Việt Minh”. Những vị trí như cầu, phà, đèo, dốc trở thành mục tiêu bị đánh phá liên tục. Không chỉ sử dụng bom thông thường, địch còn thả bom nổ chậm và bom bươm bướm nhằm cản trở bộ đội hành quân cũng như phá hoại tuyến vận chuyển.
Các đèo Sơn La, Pha Đin, đèo Khế… trở thành những trọng điểm nóng bỏng, nơi những người lính công binh phải đối mặt trực tiếp với bom đạn để giữ cho con đường ra mặt trận không bị đứt. Với tinh thần “Nhất định mở đường cho xe ta ra chiến trường tiếp viện”, Chu Văn Khâm cùng đồng đội ngày đêm bám trụ tại trọng điểm. Địch phá đến đâu, ta sửa đến đó; đường này bị đánh phá thì mở đường khác; ban ngày địch ném bom thì công binh tranh thủ mở đường trong đêm.
Trong quá trình làm nhiệm vụ, Chu Văn Khâm không chỉ dựa vào lòng dũng cảm mà còn chủ động nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay địch và đặc điểm phát nổ của từng loại bom. Từ những kinh nghiệm thực tế, đồng chí từng bước tìm ra phương pháp tháo gỡ bom hiệu quả hơn. Chỉ trong một tháng, Chu Văn Khâm cùng đồng đội đã phá được 35 quả bom nổ chậm. Riêng đồng chí trực tiếp phá gỡ 18 quả, trong đó có nhiều quả bom đặc biệt nguy hiểm và khó xử lý, góp phần giữ vững tuyến giao thông phục vụ chiến dịch.
Không chỉ dũng cảm trong những lần đối mặt với bom đạn, Chu Văn Khâm còn là người luôn gương mẫu trong sinh hoạt và công tác. Đồng chí hết lòng yêu thương đồng đội, thường xuyên động viên, giúp đỡ anh em, đặc biệt trong những thời điểm khó khăn, nguy hiểm. Chính sự tận tụy và tinh thần trách nhiệm ấy khiến Chu Văn Khâm luôn nhận được sự quý mến, tin tưởng của đồng đội.
Những đóng góp của Chu Văn Khâm được ghi nhận bằng 9 lần được Tiểu đoàn 206 khen thưởng. Đến năm 1955, Nhà nước phong tặng đồng chí danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận những chiến công và đóng góp đặc biệt trong cuộc kháng chiến, góp phần vào thắng lợi của Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Từ một người lính bộ binh trực tiếp cầm súng chiến đấu, Chu Văn Khâm trở thành người chiến sĩ công binh kiên cường trên những tuyến đường đầy bom đạn. Những quả bom được tháo gỡ, những con đường được nối lại và những chuyến xe tiếp tục tiến về phía trước chính là dấu ấn của một người lính đã dành tuổi trẻ của mình để giữ cho mạch đường ra trận luôn thông suốt.



