CHU VĂN MÙI – GIỮ SÓNG GIỮA MƯA BOM, GIỮ MẠCH CHỈ HUY ĐIỆN BIÊN
Anh hùng LLVTND Chu Văn Mùi (sinh năm 1929) là người chiến sĩ thông tin tiêu biểu trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Giữa mưa bom, lửa đạn tại những trận địa ác liệt như A1 và 311B, ông kiên cường giữ vững liên lạc vô tuyến, góp phần bảo đảm mạch chỉ huy chiến đấu thông suốt. Ngày 31-8-1955, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hình ảnh người lính ôm máy giữa chiến trường trở thành biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trách nhiệm và sự hy sinh thầm lặng của bộ đội thông tin trong Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Trong chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, có những người lính xung kích lao lên giữa hàng rào dây thép gai, có những pháo thủ kiên cường bên nòng pháo, có những chiến sĩ công binh mở đường giữa bom đạn. Và cũng có những người lính âm thầm ôm chiếc máy vô tuyến giữa chiến hào, giữ từng tín hiệu, từng mệnh lệnh xuyên qua tiếng bom gầm, đạn nổ. Với họ, mạch thông tin còn thông suốt thì mạch chỉ huy của trận đánh còn được giữ vững.
Trong đội ngũ những người lính ấy, Chu Văn Mùi đã trở thành một biểu tượng đẹp của người chiến sĩ thông tin Điện Biên: gan dạ, tận tụy, bình tĩnh và kiên cường giữa nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc.
Từ người thanh niên Bắc Giang đến người lính Đại đoàn 308
Chu Văn Mùi sinh năm 1929 tại thôn Hà Thượng, xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Ngày 3-7-1949, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt, người thanh niên ấy lên đường nhập ngũ.
Ông thuộc biên chế Đại đội cối 120mm, Tiểu đoàn 38, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 – một trong những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Những năm tháng quân ngũ đưa Chu Văn Mùi đi qua nhiều chiến trường. Từ Chiến dịch Lê Hồng Phong I, Biên giới năm 1950 đến Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào…, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau: pháo thủ, hậu cần, xung kích, tiểu đội phó súng cối rồi tiểu đội trưởng thông tin liên lạc.
Mỗi nhiệm vụ là một lần thử thách. Mỗi chiến trường là một lần trưởng thành.
Đến năm 1952, Chu Văn Mùi tham gia lớp đào tạo vô tuyến đầu tiên của Cục Thông tin liên lạc. Từ đây, ông gắn bó với một thứ vũ khí đặc biệt: chiếc máy vô tuyến điện.
Nó không trực tiếp bắn vào quân địch, nhưng từ những tín hiệu truyền qua chiếc máy ấy, mệnh lệnh được chuyển tới trận địa, tình hình chiến đấu được báo cáo về sở chỉ huy, các đơn vị có thể phối hợp với nhau giữa chiến trường rộng lớn.
Và đến Điện Biên Phủ, nhiệm vụ ấy càng trở nên sống còn.
Giữa Điện Biên, từng tín hiệu cũng là một trận chiến
Năm 1954, Chu Văn Mùi bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ với nhiệm vụ Tiểu đội trưởng thông tin liên lạc của Đại đoàn 308, trực tiếp phụ trách máy vô tuyến điện thuộc Ban tham mưu.
Điện Biên Phủ khi ấy là một chiến trường đặc biệt khốc liệt.
Ngày và đêm, pháo binh, súng cối và máy bay đối phương liên tục đánh phá. Những quả đồi vốn xanh màu cây cỏ dần bị bom đạn cày xới. Hệ thống chiến hào ngày một tiến sát các cứ điểm. Bộ đội phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng gian khổ, vừa đánh địch, vừa đào hào, củng cố trận địa và bảo đảm hậu cần.
Trong hoàn cảnh ấy, thông tin liên lạc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Một mệnh lệnh đến chậm có thể làm lỡ thời cơ.
Một báo cáo không truyền được có thể khiến cấp chỉ huy không nắm được tình hình.
Một đường liên lạc bị gián đoạn giữa lúc trận đánh đang diễn ra quyết liệt có thể ảnh hưởng đến sự hiệp đồng của cả đơn vị.
Bởi vậy, người chiến sĩ thông tin phải chiến đấu theo cách riêng của mình.
Họ không chỉ bảo vệ bản thân.
Họ phải bảo vệ tín hiệu.
Và Chu Văn Mùi đã làm điều đó giữa những trận đánh ác liệt của chiến trường Điện Biên.
Giữ mạch chỉ huy giữa lửa đạn A1
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chu Văn Mùi tham gia nhiều trận đánh, trong đó nổi bật là những ngày chiến đấu tại khu vực đồi A1 và đồi 311B.
A1 là một trong những vị trí có ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống phòng ngự phía Đông của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cuộc chiến tại đây diễn ra dai dẳng và quyết liệt. Bộ đội ta phải chiến đấu giành giật từng đoạn hào, từng ụ súng, từng vị trí.
Giữa chiến trường ấy, người lính thông tin Chu Văn Mùi vẫn kiên trì bám trụ.
Bom có thể phá chiến hào.
Đạn có thể cắt đứt đường dây.
Nhưng mệnh lệnh chiến đấu không được phép bị cắt đứt.
Trong tiếng pháo dồn dập, Chu Văn Mùi cùng đồng đội phải giữ cho hệ thống thông tin hoạt động, bảo đảm những mệnh lệnh từ cấp trên được chuyển xuống đơn vị và những diễn biến ngoài trận địa được báo cáo trở lại.
Đó là một cuộc chiến thầm lặng nhưng vô cùng căng thẳng.
Nếu người lính bộ binh phải đối mặt trực diện với hỏa lực đối phương thì người lính thông tin cũng phải bám theo đội hình chiến đấu, mang theo thiết bị, bảo vệ máy móc và tìm mọi cách duy trì liên lạc trong hoàn cảnh chiến trường liên tục biến động.
Chu Văn Mùi đã hoàn thành nhiệm vụ ấy bằng sự bình tĩnh, gan dạ và ý thức trách nhiệm của một người lính hiểu rằng: phía sau từng tín hiệu mình giữ được là quyết định của người chỉ huy và sinh mạng của đồng đội ngoài trận địa.
Giữ sóng – cũng là giữ lấy thời cơ chiến thắng
Có những chiến công được ghi bằng số cứ điểm bị tiêu diệt, số vũ khí thu được hay số quân địch bị bắt.
Nhưng cũng có những chiến công khó có thể đo đếm bằng những con số.
Đó là những giờ phút đường liên lạc vẫn thông suốt giữa mưa bom.
Là những mệnh lệnh được truyền đi đúng lúc.
Là những báo cáo từ trận địa trở về sở chỉ huy kịp thời.
Là việc người chỉ huy vẫn có thể nắm được tình hình để điều động lực lượng trong những thời điểm quyết định.
Chiến công của Chu Văn Mùi thuộc về những chiến công như thế.
Ông và những người lính thông tin đã góp phần tạo nên hệ thần kinh của chiến trường, nối sở chỉ huy với các đơn vị đang chiến đấu phía trước.
Trong 56 ngày đêm Điện Biên Phủ, khi vòng vây của quân ta ngày càng siết chặt, những đường hào ngày càng tiến sâu vào trung tâm tập đoàn cứ điểm, thông tin liên lạc càng phải được giữ vững.
Để rồi chiều ngày 7-5-1954, lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc hầm chỉ huy quân Pháp, đánh dấu sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Trong chiến thắng chung ấy có sức mạnh của những người lính trực tiếp xung phong.
Có mồ hôi của dân công hỏa tuyến.
Có những khẩu pháo được kéo qua núi cao vực sâu.
Và có cả những tín hiệu vô tuyến được giữ bằng lòng quả cảm của những người lính thông tin như Chu Văn Mùi.
Từ Điện Biên đến những chiến trường mới
Chiến thắng Điện Biên Phủ không phải là điểm kết thúc cuộc đời binh nghiệp của Chu Văn Mùi.
Sau chiến dịch, những thành tích xuất sắc của ông được ghi nhận. Ông được công nhận Đảng viên chính thức sớm hơn thời hạn và được trao tặng Huân chương Quân công hạng Ba.
Ngày 31-8-1955, Chu Văn Mùi trở thành một trong những quân nhân có thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhưng người lính Điện Biên năm ấy vẫn tiếp tục cuộc hành quân của đời mình.
Trong những năm tiếp theo, ông tiếp tục phục vụ quân đội, gắn bó với lực lượng thông tin và tham gia những chiến dịch lớn. Ông từng đảm nhiệm công tác tại Tiểu đoàn Thông tin 18, tham gia các chiến trường Đường 9 – Khe Sanh, Trị Thiên.
Đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Chu Văn Mùi tiếp tục có mặt trong đội ngũ quân đội tiến về giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ Điện Biên Phủ năm 1954 đến mùa Xuân năm 1975 là một hành trình dài hơn hai thập niên.
Người chiến sĩ trẻ từng giữ chiếc máy vô tuyến giữa mưa bom Điện Biên ngày nào đã trưởng thành thành một cán bộ chỉ huy dày dạn kinh nghiệm. Sau chiến tranh, ông tiếp tục đảm nhiệm những nhiệm vụ trong quân đội, trong đó có công tác giáo dục, đào tạo. Năm 1982, ông được thăng quân hàm Đại tá.
Một chiếc máy – một câu chuyện – một thế hệ
Nhiều năm trôi qua, chiến trường Điện Biên năm xưa đã phủ màu xanh hòa bình.
Những chiến hào từng rung chuyển bởi pháo đạn trở thành chứng tích lịch sử. Những người lính tuổi đôi mươi năm ấy rồi cũng bước sang tuổi xế chiều.
Nhưng có những kỷ vật vẫn còn ở lại.
Chiếc máy vô tuyến mà Chu Văn Mùi từng sử dụng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này trở thành hiện vật được lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Nhìn chiếc máy ấy hôm nay, người ta có thể thấy một thiết bị thông tin đã cũ.
Nhưng phía sau lớp kim loại nhuốm màu thời gian là cả một câu chuyện.
Đó là câu chuyện của những đêm không ngủ.
Của những chiến hào đầy bùn đất.
Của tiếng pháo rung chuyển núi rừng.
Của những người lính ghì chặt máy vô tuyến giữa trận địa để tín hiệu không bao giờ tắt.
Và hơn tất cả, đó là câu chuyện về trách nhiệm của một người lính đối với đồng đội và Tổ quốc.
Giữ sóng giữa mưa bom – giữ niềm tin cho ngày toàn thắng
Trong lịch sử một dân tộc, có những người trở thành anh hùng bằng một khoảnh khắc phi thường. Nhưng cũng có những người làm nên sự phi thường bằng việc kiên trì hoàn thành nhiệm vụ của mình qua hàng nghìn khoảnh khắc hiểm nguy.
Chu Văn Mùi thuộc về những con người như vậy.
Từ người thanh niên Bắc Giang lên đường nhập ngũ năm 1949, ông đi qua nhiều chiến dịch, nhiều vị trí công tác và cuối cùng trở thành một trong những người lính thông tin tiêu biểu của Điện Biên Phủ.
Ở nơi bom đạn có thể phá tung chiến hào bất cứ lúc nào, ông vẫn giữ máy.
Ở nơi từng phút giây đều có thể quyết định sự sống và cái chết, ông vẫn giữ liên lạc.
Ở nơi những trận đánh đang diễn ra dữ dội, ông cùng đồng đội giữ cho mệnh lệnh của người chỉ huy đến được với người lính ngoài trận địa.
Giữ sóng chính là giữ mạch chỉ huy.
Giữ mạch chỉ huy chính là góp phần giữ thế trận.
Và giữ được thế trận giữa những ngày quyết chiến ấy chính là góp từng phần sức lực vào chiến thắng Điện Biên Phủ – chiến thắng đã trở thành một trong những mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Tên tuổi Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Chu Văn Mùi vì thế không chỉ gắn với một chiếc máy vô tuyến hay một trận địa cụ thể.
Ông đại diện cho những người lính thông tin đã chiến đấu bằng sự chính xác, lòng dũng cảm và tinh thần trách nhiệm tuyệt đối.
Giữa tiếng bom rung chuyển núi rừng Điện Biên năm ấy, họ đã giữ cho những tín hiệu không tắt.
Và từ những tín hiệu nhỏ bé giữa đại ngàn Tây Bắc, một mệnh lệnh lớn lao của lịch sử đã được thực hiện:
Tiến lên!
Quyết chiến!
Quyết thắng!
Để rồi Điện Biên Phủ đi vào lịch sử, còn những người lính như Chu Văn Mùi đi vào ký ức dân tộc như những con người bình dị đã làm nên một thời đại anh hùng.



