Chu Văn Mùi – Người lính thông tin giữa trận địa A1
Phạm Anh Thư
Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã đi qua 70 năm, nhưng với Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Chu Văn Mùi, những ngày tháng chiến đấu gian khổ và hào hùng ấy chưa bao giờ phai mờ. Một ngày cuối tháng Tư, trong căn nhà khang trang nằm bên mặt đường ở thôn Hà Thượng, xã Thượng Lan, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, người chiến sĩ Điện Biên năm xưa nay đã 98 tuổi, sức khỏe yếu đi nhiều, hỏi chuyện có câu nghe rõ, câu không. Thế nhưng mỗi khi nhắc đến Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đôi mắt ông lại bừng sáng. Những ký ức về lòng chảo Mường Thanh, về những trận đánh khốc liệt và những người đồng đội năm xưa như trở về nguyên vẹn.
Chu Văn Mùi sinh năm 1926 trong một gia đình thuần nông. Ngày 3/7/1949, khi vừa 23 tuổi, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ và được biên chế vào Tiểu đoàn 38, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 – đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước khi bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chu Văn Mùi đã có mặt trong nhiều chiến dịch lớn như Chiến dịch Biên giới, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Hòa Bình… Ở mỗi nơi, ông lại đảm nhận một nhiệm vụ khác nhau: khi là chiến sĩ nuôi quân, lúc trở thành chiến sĩ xung kích, pháo thủ, tiểu đội trưởng súng cối rồi tiểu đội trưởng thông tin. Dù ở vị trí nào, ông cũng luôn nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Năm 1952, Chu Văn Mùi được đưa đi đào tạo lớp vô tuyến điện. Từ đó, ông chuyển sang đơn vị vô tuyến điện thuộc Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Đến năm 1954, khi Chiến dịch Điện Biên Phủ nổ ra, ông là chiến sĩ vô tuyến điện thuộc Ban tham mưu, được giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng: bảo đảm kết nối thông tin liên lạc giữa Trung đoàn trưởng với chỉ huy Đại đoàn.
Trong ký ức của Chu Văn Mùi, trận chiến trên đồi A1 là một trong những thời khắc không thể nào quên. Hỏa lực của địch lúc ấy vô cùng dữ dội, quân ta chịu nhiều thương vong. Hệ thống liên lạc từ đại đội trưởng đến tiểu đoàn, trung đoàn rồi sư đoàn lần lượt bị gián đoạn. Trong tình thế đó, Chu Văn Mùi cùng tổ thông tin nhận lệnh phải nhanh chóng nối lại đường dây liên lạc trên đồi A1. Bởi giữa trận địa ác liệt, thông tin liên lạc chính là mạch nối để chỉ huy nắm được tình hình và điều phối lực lượng. Không có liên lạc, việc chỉ huy chiến đấu sẽ gặp vô vàn khó khăn.
Chu Văn Mùi cùng đồng đội xin pháo binh ta bắn yểm trợ để có thể tiến vào trung tâm trận địa. Khi đến được vị trí cần thiết, ông vừa duy trì liên lạc giữa Trung đoàn trưởng và chỉ huy Đại đoàn, vừa chiến đấu bảo vệ những đồng đội bị thương, đồng thời sử dụng điện đài chỉ mục tiêu để pháo binh ta tiêu diệt các vị trí của địch. Những đường truyền thông tin được duy trì giữa tiếng súng và bom đạn đã góp phần giúp quân ta đánh bật nhiều đợt phản kích của đối phương.
Thế nhưng giữa lúc trận đánh đang diễn ra, chiếc máy vô tuyến điện của Chu Văn Mùi lại gần cạn pin. Tín hiệu yếu dần, việc liên lạc trở nên khó khăn. Trong hoàn cảnh cấp bách ấy, ông phát hiện một chiếc dù mà địch đã thả xuống để tiếp tế vào đêm hôm trước. Chu Văn Mùi liều mình bò lên khỏi hầm, kéo chiếc dù vào và tìm kiếm. May mắn thay, bên trong có một hộp pin có thể sử dụng cho chiếc máy vô tuyến điện của ông. Pin được thay, tín hiệu lập tức mạnh lên, các máy của Đại đoàn có thể bắt được liên lạc từ đồi A1.
Nhưng chính sự thay đổi bất thường ấy lại khiến phía Đại đoàn nghi ngờ. Tín hiệu vốn đang yếu bỗng nhiên mạnh lên khiến các đồng chí chỉ huy lo rằng đó có thể là máy thông tin của địch. Mệnh lệnh được đưa ra: tất cả các máy tạm thời đình chỉ, không liên lạc với máy của Chu Văn Mùi. Chỉ sau nhiều lần kiểm tra bằng tín hiệu, mật mã và các phương thức nghiệp vụ chuyên môn, chỉ huy Đại đoàn mới xác nhận đúng là máy của quân ta và tiếp tục chỉ huy Chu Văn Mùi chiến đấu.
Một kỷ niệm khác cũng in sâu trong tâm trí người chiến sĩ thông tin là ngày 4/4/1954. Khi cuộc chiến đấu trên đồi A1 đang diễn ra vô cùng ác liệt, Chu Văn Mùi nhận lệnh đi tìm Trung đoàn trưởng Nguyễn Hùng Sinh. Ông nhanh chóng quàng chiếc máy vô tuyến điện nặng hơn 20kg lên vai, nhưng cơ thể gần như không thể đứng dậy vì đã một ngày một đêm không được ăn uống. Dù kiệt sức, ông vẫn cố gắng gượng dậy, mang theo chiếc máy và tiến vào trận địa tìm Trung đoàn trưởng.
Khi tìm được Nguyễn Hùng Sinh, Chu Văn Mùi lập tức khôi phục đường liên lạc từ Trung đoàn trưởng đến Đại đoàn. Khi ấy, Nguyễn Hùng Sinh đang bị thương nhưng vẫn vừa chỉ huy vừa trực tiếp chiến đấu. Nhờ liên lạc được nối lại, ông đã chỉ huy bộ đội đánh lui một đợt phản kích của địch và khôi phục trận địa của ta. Chu Văn Mùi vẫn nhớ rõ giây phút ông báo cáo: “Hùng Sinh vẫn còn, Hùng Sinh bị thương”. Từ đầu dây bên kia lập tức vang lên tiếng nói rất to: “Hoan hô đồng chí Chu Văn Mùi, tặng Huân chương chiến công hạng Nhất cho Chu Văn Mùi.”
Tinh thần chiến đấu và sự tận tụy của Chu Văn Mùi sau đó được ghi nhận đặc biệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định công nhận ông là đảng viên chính thức trước thời hạn 5 tháng và tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 31/8/1955, Chu Văn Mùi được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Sau những năm tháng ở Điện Biên Phủ, Chu Văn Mùi vẫn tiếp tục gắn bó với quân đội. Năm 1972, ông được cử đi học rồi trở về làm cán bộ phụ trách Tiểu đoàn Thông tin 18, tham gia các chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông được giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 140. Sau đó, ông tiếp tục công tác trong quân đội. Đến năm 1980, theo yêu cầu của Quân đoàn I, Chu Văn Mùi được điều về làm Hiệu trưởng Trường Văn hóa Quân đoàn. Năm 1986, ông nghỉ hưu.
Nhưng với Chu Văn Mùi, nghỉ hưu không có nghĩa là ngừng cống hiến. Rời quân ngũ sau 37 năm rong ruổi qua các chiến trường từ Bắc vào Nam, ông trở về quê hương và bắt đầu một “trận chiến” mới trên chính mảnh đất mình sinh ra. Chỉ vài ngày sau khi nghỉ hưu, Bí thư chi bộ thôn sang ngỏ lời mời ông làm Chủ nhiệm Hợp tác xã. Sau cuộc họp dân, ông được bà con tín nhiệm bầu giữ chức vụ này. Với ông, đó là một trách nhiệm mà mình cần làm tròn, bởi bao năm đi chiến đấu xa quê, ông chưa có nhiều cơ hội đóng góp cho chính làng quê của mình.
Khi ấy, quê hương Chu Văn Mùi còn vô cùng khó khăn. Điện, đường, trường, trạm đều thiếu thốn. Trên cương vị Chủ nhiệm Hợp tác xã, ông cùng các thành viên vận động và tổ chức kéo điện về làng, xây dựng trường học, trạm bơm, làm cầu, làm đường. Ông cũng cùng Ban Chủ nhiệm vận động người dân đưa các giống lúa, ngô mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất và thu nhập. Nhờ những nỗ lực ấy, đời sống người dân từng bước được cải thiện, số hộ nghèo trong thôn giảm dần.
Từ người chiến sĩ thông tin từng mang chiếc máy vô tuyến nặng hơn 20kg vượt qua trận địa A1, Chu Văn Mùi đã dành phần đời còn lại để tiếp tục phục vụ quê hương. Trong chiến tranh, ông giữ mạch liên lạc giữa những người lính ngoài mặt trận; khi hòa bình, ông lại góp sức nối những con đường, đưa điện, trường học và những điều kiện sống tốt hơn về với người dân quê mình.
Ở tuổi 98, Anh hùng Chu Văn Mùi vẫn là hình ảnh đẹp của một người lính đã đi qua chiến tranh nhưng chưa bao giờ ngừng cống hiến. Trong gia đình, ông là người chồng, người cha, người ông mẫu mực. Ba người con của ông đều có cuộc sống hạnh phúc, sung túc; 10 người cháu ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành. Những năm tháng chiến đấu đã lùi xa, nhưng câu chuyện về người chiến sĩ vô tuyến điện trên đồi A1 vẫn còn đó như một minh chứng cho lòng dũng cảm, sự kiên cường và tinh thần trách nhiệm của những người lính đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.



