Anh hùng Lực lượng vũ trang

Chu Văn Tấn - “Người anh cả của lực lượng du kích quân Việt Nam”

Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay không phải ai cũng biết đến tên tuổi ông Chu Văn Tấn, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của QĐND Việt Nam, người một thời được coi là “hùm xám Bắc Sơn”. Nhận xét về Thượng tướng Chu Văn Tấn, Người anh cả của LLVT Võ Nguyên Giáp viết: “Đồng chí tuyệt đối trung thành với Bác Hồ, Đảng Cộng sản Đông Dương trước kia và Đảng Lao động Việt Nam sau này”. Tên tuổi của ông gắn liền với phong trào khởi nghĩa Bắc Sơn.

Lạng Sơn08/01/2026Lê Thọ Bình (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, phường Tam Thanh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chu Văn Tấn là người dân tộc Nùng, sinh (ngày sinh của ông không rõ) tháng 5 năm 1910, tại tổng Lâu Thượng, châu Võ Nhai, tỉnh Lạng Sơn (nay thuộc xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên). Xuất thân trong một gia đình thổ hào địa phương. Thuổ nhỏ, ông được gia đình cho ăn học. Sau khi tốt nghiệp tiểu học ở Thái Nguyên năm 1927, ông từng có thời gian dạy học ở Bắc Hà. Khoảng năm 1931-1932, ông làm nhân viên địa chính và cai quản lính dõng (châu đoàn) cho chính quyền thực dân Pháp tại quê hương ông.

Là người có học vấn và có tinh thần tự trị, ông thường xuyên đấu tranh với những quan chức thực dân để giảm áp bức và sưu thuế, vì vậy rất có uy tín với dân chúng trong vùng. Chính vì vậy, những người Cộng sản đã tìm cách bắt liên lạc và vận động ông tham gia cách mạng nhằm tranh thủ một thủ lĩnh địa phương để lôi kéo đồng bào các dân tộc trong vùng. Năm 1934 Chu Văn Tấn chính thức gia nhập hàng ngũ những người cộng sản. Dưới sự hướng dẫn của những người Cộng sản, ông bí mật xây dựng các đội tự vệ bán vũ trang Tràng Xá, Võ Nhai. Năm 1936, Chu Văn Tấn gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương với bí danh là Tân Hồng.

Theo Đại tá, Tiến sĩ Dương Đình Lập, Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam) thì đầu năm 1937, tổ chức cơ sở đảng đầu tiên của huyện Võ Nhai được thành lập ở làng Cao, xã Phú Thượng do Chu Văn Tấn phụ trách.Ngày 22 tháng 9 năm 1940, quân Nhật bất ngờ tấn công Lạng Sơn. Quân Pháp đồn trú tại đây hoảng loạn đã tháo chạy qua châu Bắc Sơn. Nhân cơ hội này, Chu Văn Tấn lãnh đạo các đội tự vệ tấn công và cướp súng của tàn quân Pháp tại đèo Tam Canh để tự vũ trang cho mình.

Nhân cơ hội quân đồn trú Pháp bị tan rã, quân Nhật chưa kịp thiết lập quyền kiểm soát, các cán bộ Cộng sản tại Bắc Sơn - Võ Nhai cho rằng thời cơ đã đến. Ngày 27 tháng 9 năm 1940, ông chỉ huy các đội tự vệ vũ trang tấn công đồn Mỏ Nhài (Bắc Sơn), hỗ trợ những người Cộng sản vận động dân chúng nổi dậy cướp chính quyền tại Bắc Sơn.

Quân khởi nghĩa làm chủ huyện lỵ Bắc Sơn được gần một tháng. Sau đó, người Nhật thỏa hiệp với người Pháp, quân Pháp tái chiếm Bắc Sơn và đàn áp quân khởi nghĩa. Ngày 28 tháng 10 năm 1940, quân Pháp chiếm lại đồn Mỏ Nhài. Khởi nghĩa Bắc Sơn bị dập tắt.

Tuy nhiên, ông cùng một số đội viên tự vệ cùng vũ khí rút được vào rừng sâu Võ Nhai - Bắc Sơn lập căn cứ. Tháng 11 năm 1940, Hội nghị Trung ương Đảng CSVN lần thứ 7 tại làng Đình Bảng, Bắc Ninh đã ra quyết định về việc duy trì và bồi dưỡng lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn làm vốn quân sự đầu tiên cho cách mạng. Đầu tháng 2 năm 1941, Chu Văn Tấn được bầu làm Xứ ủy viên Bắc Kỳ, phụ trách xây dựng đội du kích Bắc Sơn.

Biệt danh “Hùm xám Bắc Sơn”

Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập trong một buổi lễ tổ chức tại khu rừng Khuổi Nọi (nay thuộc xã Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn). Ông Hoàng Văn Thụ đã thay mặt Trung ương Đảng công nhận, trao nhiệm vụ và lá cờ đỏ sao vàng cho Đội du kích Bắc Sơn. Bấy giờ đội gồm 32 chiến sĩ, do ông Lương Văn Tri làm Chỉ huy trưởng. Ông Chu Văn Tấn được cử làm Chỉ huy phó.

Tháng 4 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Vân Nam qua Quảng Tây về Cao Bằng, ở tại hang Pắc Pó, nơi có dòng suối mà tiếng địa phương gọi là Khuổi Nậm. Ông Chu Văn Tấn được phân công nhiệm vụ chỉ huy đội bảo vệ đưa các ông Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh từ Việt Nam sang Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi đi vòng về Cao Bằng để tham dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pắc Pó vào tháng 5 năm 1941. Hội nghị này xác định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) và đồng thời chủ trương thành lập lực lượng Cứu quốc quân làm nòng cốt quân sự cho Việt Minh.

Theo quyết định của Hội nghị, Đội du kích Bắc Sơn được đổi tên thành Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất. Tháng 6 năm 1941, Phùng Chí Kiên được điều về làm Phụ trách chung.Tuy nhiên, ngay cuối tháng 6, quân Pháp cùng lính khố xanh, khố đỏ mở cuộc càn quét lớn vào Bắc Sơn. Ông Chu Văn Tấn cùng Ban chỉ huy Cứu quốc quân tổ chức chống càn, tuy nhiên do lực lượng chênh lệch nên đành phải để lại một tiểu đội chặn đối phương, còn 2 tiểu đội phá vòng vây, rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng. Tiểu đội của Phùng Chí Kiên và Lương Văn Tri bị phục kích và hy sinh gần hết. Riêng tiểu đội do ông Chu Văn Tấn chỉ huy thoát khỏi vòng vây về được Pắc Pó.

Sau khi đưa được một bộ phận của Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất về Pắc Pó an toàn và được chuyển thành đơn vị vũ trang bảo vệ căn cứ Pắc Pó, Chu Văn Tấn được giao nhiệm vụ về lại Võ Nhai để xây dựng và làm Chỉ huy trưởng của Trung đội Cứu quốc quân thứ hai, với 47 chiến sĩ (có 3 nữ), được thành lập ngày 15 tháng 9 năm 1941, tại Khuôn Mánh (nay thuộc xã Tràng Xá, Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên).

Trong những năm sau đó, ông chỉ huy Cứu quốc quân phát triển lực lượng, đánh du kích ở Tràng Xá, phát triển về Đại Từ, cướp được nhiều vũ khí của quân Pháp. Đội quân du kích của ông nổi tiếng khắp vùng làm cho các đội quân của Pháp hễ nghe tới tên ông đều tỏ ra khiếp sợ, coi đó là mối hiểm họa cực kỳ to lớn đối quân đội Pháp. Chính vì vậy các binh sĩ Pháp đã đặt cho ông biệt danh là "Hùm xám Bắc Sơn".Con của 4 vị có vai trò to lớn trong cuộc khởi nghĩa bắc Sơn: con trai út Đại tướng Võ Nguyên Giáp, con trai đồng chí Trần Đăng Ninh, con trai Thượng tướng Chu Văn Tấn và con gái đồng chí Hoàng Quốc Việt tại một cuộc tọa đàm về khởi nghĩa Bắc Sơn. ó thể nói trong chính sách dân tộc, đặc biệt là ở Việt Bắc, Chu Văn Tấn có những đóng góp lớn. Chuyện ông và Vua Mèo Vương Chí Sình kết nghĩa làm anh em được kể như một huyền thoại.

Như nhiều người đã từng biết “Vương triều” của Vương Chính Đức ở Đồng Văn, nhưng ông thao túng hầu như toàn bộ khu vực cực Bắc cũng như toàn bộ vùng Đông và Tây Bắc với 7 vạn dân, nghề chính là trồng cây anh túc. Chủ trương của vua Mèo là không theo Pháp cũng không theo Tưởng mà ông muốn lập một Khu tự trị cho người Mèo ở Đồng Văn.

Theo Đại tá Nguyễn Huy Văn (tức Kim Sơn), cựu chiến sĩ Việt Nam giải phóng quân, sau khi nước Việt Nam DCCH ra đời, để bảo vệ khu vực phía Bắc thì việc “quy phục” Vua mèo là vấn đề cấp bách. Chủ tịch Hồ CHí Minh đã giao cho Chu Văn Tấn đi thuyết phục vua Mèo và mời ông về Hà Nội “cùng Chính phủ gánh vác việc nước”.Chu Văn Tấn đã thuyết phục thành công. Tuy nhiên do tuổi đã cao nên Vương Chính Đức đã cho con trai thứ hai của mình là Vương Chí Sình, người được coi là kế nghiệp vua Mèo, đi thay. Trong chuyến đi này Chu Văn Tấn đã kết nghĩa anh em với Vương Chí Sình.

Ông Vương Chí Sình đã về Hà Nội ở và trở thành Đại biểu Quốc hội các khóa I và II. Trước khi nghỉ hưu Vương Chí Sình là Chủ tịch huyện Đồng Văn. Ông mất năm 1962 tại Hà Nội. Linh cữu của ông được đưa về Hà Giang, an táng tại Phó Bản sau đó được cải táng về khu di tích nhà Vương như hiện nay. Cũng từ đó vương quốc của vua Mèo chỉ còn là hoài niệm.

Thượng tướng Chu Văn Tấn qua đời ngày 22/5/1984 tại Hà Nội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn