Chu Văn Tấn và những tháng ngày đầu ở Bắc Trung Bộ – khi xây dựng lực lượng cũng là chuẩn bị cho chiến tranh
Sau khi rời chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 2/3/1946, Chu Văn Tấn được cử làm phái viên của Chính phủ đi kiểm tra Khu 4. Đây là giai đoạn đặc biệt: chiến khu Bắc Trung Bộ vừa phải xây dựng lực lượng, vừa đối phó với những diễn biến ngày càng căng thẳng với quân Pháp. Đến giai đoạn sau, Chu Văn Tấn mới trực tiếp giữ chức Khu trưởng Khu 4.
Thời kỳ: Tháng 3/1946 – cuối năm 1946.
Lưu ý về niên biểu: Có một số nguồn phổ thông ghi Chu Văn Tấn làm Khu trưởng Khu 4 ngay từ năm 1946, nhưng các tư liệu của Quân khu 4 xác định Lê Thiết Hùng là Khu trưởng Chiến khu 4 trong giai đoạn đầu, còn Chu Văn Tấn làm Khu trưởng Khu 4 vào giai đoạn sau, trước khi chuyển sang Chiến khu 1. Vì vậy, câu chuyện dưới đây không gán cho Chu Văn Tấn những quyết định chỉ huy Khu 4 trong thời gian ông mới được cử làm phái viên Chính phủ.
1. RỜI BỘ QUỐC PHÒNG, NHƯNG KHÔNG RỜI CHIẾN TRƯỜNG
Ngày 2/3/1946, Chu Văn Tấn rời chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Chỉ hơn nửa năm trước, ông còn là một trong những người đứng đầu cơ quan quốc phòng của một Nhà nước vừa giành được độc lập.
Bây giờ, ông lại trở về với công việc ở các địa bàn chiến khu.
Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân và Thông tấn xã Việt Nam, sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng, Chu Văn Tấn được cử làm phái viên của Chính phủ đi kiểm tra Khu 4.
Đây không phải một chuyến đi mang tính hình thức.
Khu 4 lúc đó là một địa bàn đặc biệt quan trọng.
Ngày 15/10/1945, Chiến khu 4 được thành lập, gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế; Lê Thiết Hùng được giao làm Khu trưởng, Hồ Tùng Mậu làm Chính trị viên.
Địa bàn kéo dài từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế.
Phía tây là dãy Trường Sơn.
Phía đông là biển.
Ở giữa là đồng bằng, trung du, rừng núi và những tuyến giao thông nối Bắc với Trung.
Nếu chiến tranh mở rộng, đây sẽ là một địa bàn vừa có thể trở thành tiền tuyến, vừa có khả năng trở thành hậu phương.
Và năm 1946, điều đó không còn là giả định xa xôi.
Chú thích: Địa bàn Chiến khu 4 trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nguồn/giải thích: Ảnh tư liệu minh họa bối cảnh Chiến khu 4; không phải ảnh xác định Chu Văn Tấn đang kiểm tra Khu 4. Quân khu 4 xác định Chiến khu 4 được thành lập ngày 15/10/1945, gồm sáu tỉnh Bắc Trung Bộ.
2. KHU 4 – MỘT CHIẾN KHU KHÔNG THỂ CHỈ BIẾT “GIỮ ĐẤT”
Ngay sau khi Pháp gây hấn ở Nam Bộ, phong trào hưởng ứng kháng chiến ở Khu 4 diễn ra mạnh mẽ.
Các địa phương tổ chức lực lượng, đóng góp người và của cho chiến trường.
Theo tư liệu chính thức của Quân khu 4, chiến khu đã cử 5 đại đội Nam tiến; quân dân trên địa bàn cũng tiến công quân Pháp ở nhiều nơi, trong đó có Vinh và Thừa Thiên Huế.
Điều đó đặt ra một bài toán lớn.
Khu 4 không chỉ phải bảo vệ địa bàn của mình.
Khu 4 còn phải chi viện cho những nơi đang chiến đấu.
Muốn làm được như vậy, phải có lực lượng.
Muốn có lực lượng, phải tổ chức.
Muốn tổ chức được, phải có cán bộ.
Và muốn lực lượng có khả năng chiến đấu lâu dài, phải xây dựng được dân quân, du kích và bộ đội chủ lực.
Đó chính là bối cảnh mà Chu Văn Tấn đến kiểm tra Khu 4.
Ông vốn trưởng thành từ chiến tranh du kích Bắc Sơn – Võ Nhai.
Ông hiểu rằng một lực lượng chiến đấu không thể chỉ dựa vào lòng dũng cảm.
Phải có tổ chức.
Phải có chỉ huy.
Phải có sự gắn bó với nhân dân.
Và đặc biệt, phải biết chuẩn bị từ trước khi chiến tranh thực sự lan rộng.
Chú thích: Những đoàn quân Nam tiến trong những ngày đầu bảo vệ nền độc lập.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh minh họa phong trào Nam tiến và việc Khu 4 chi viện cho chiến trường Nam Bộ. Quân khu 4 ghi nhận chiến khu đã cử 5 đại đội Nam tiến trong giai đoạn đầu sau Cách mạng Tháng Tám.
3. SAU HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ – CẢ NƯỚC TRANH THỦ TỪNG NGÀY
Ngày 6/3/1946, Hiệp định Sơ bộ Việt – Pháp được ký kết.
Quân Pháp chuẩn bị ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc theo những thỏa thuận của Hiệp định.
Nhưng điều đó không có nghĩa nguy cơ chiến tranh biến mất.
Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tận dụng thời gian hòa hoãn để chuẩn bị lực lượng cho một khả năng chiến tranh lớn hơn.
Trong thời gian này, công tác xây dựng quân đội được đẩy mạnh.
Theo Bộ Quốc phòng, từ tháng 5/1946, quân đội thống nhất mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam; từ tiểu đội đến trung đoàn được tổ chức theo “tam tam chế”. Đến cuối năm 1946, cả nước đã tổ chức được 31 trung đoàn và 25 chi đội, đồng thời tiếp tục phát triển dân quân du kích.
Đó là một cuộc thay đổi rất lớn.
Những đơn vị từng chiến đấu theo kiểu du kích đang dần chuyển sang tổ chức quân đội.
Nhưng quá trình ấy không thể giống nhau ở mọi nơi.
Mỗi chiến khu có điều kiện riêng.
Khu 4 có địa hình riêng.
Có những vùng đồng bằng đông dân.
Có miền núi rộng lớn.
Có tuyến đường giao thông quan trọng.
Có biển.
Có biên giới Việt – Lào.
Vì vậy, xây dựng lực lượng ở Khu 4 phải đồng thời tính đến chiến đấu tại chỗ, bảo vệ hậu phương và chi viện cho các chiến trường khác.
Đó là một bài toán mà người cán bộ quân sự như Chu Văn Tấn đặc biệt hiểu rõ.
Chú thích: Lực lượng vũ trang Việt Nam trong quá trình chuyển sang tổ chức quân đội chính quy năm 1946.
Nguồn/giải thích: Ảnh minh họa quá trình xây dựng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Theo Bộ Quốc phòng, từ tháng 5/1946 quân đội thống nhất mang tên Quân đội Quốc gia Việt Nam và đến cuối năm đã tổ chức được 31 trung đoàn, 25 chi đội.
4. CÔNG VIỆC CỦA CHU VĂN TẤN: NHÌN THẤY NHỮNG GÌ ĐANG THIẾU
Không có đủ tư liệu để dựng lại từng chuyến đi, từng cuộc họp hay từng câu nói của Chu Văn Tấn trong thời gian làm phái viên Chính phủ ở Khu 4.
Vì vậy, không nên kể theo kiểu ông đi đến từng địa phương rồi trực tiếp ra từng mệnh lệnh mà sử liệu chưa xác nhận.
Điều có thể xác định là ông được giao kiểm tra Khu 4, trong bối cảnh Chính phủ đang phải xây dựng lực lượng vũ trang và chuẩn bị cho khả năng chiến tranh lan rộng.
Với một người từng nhiều năm xây dựng du kích, những điều cần nhìn thấy trên thực địa rất rõ:
Quân số có đủ không?
Cán bộ có đủ không?
Dân quân địa phương có được tổ chức không?
Vũ khí được quản lý thế nào?
Các đơn vị có khả năng phối hợp với nhau không?
Nếu giao thông bị cắt, từng địa phương có thể tự chiến đấu hay không?
Đó là những vấn đề sống còn.
Và thực tế của năm 1946 cho thấy công tác xây dựng lực lượng diễn ra trên toàn quốc với tốc độ rất cao.
Bộ Tổng Tham mưu được thành lập từ tháng 9/1945.
Các trường quân sự được mở.
Tháng 4/1946, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn được tổ chức.
Các trường quân chính ở chiến khu tiếp tục đào tạo cán bộ.
Tại miền Trung, Trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi cũng được tổ chức để đào tạo cán bộ cho khu vực này.
Khu 4 cũng phải chuẩn bị một đội ngũ cán bộ đủ khả năng chỉ huy lực lượng ngày càng lớn.
Chú thích: Công tác đào tạo cán bộ quân sự trong những năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh minh họa cho quá trình đào tạo cán bộ quân sự năm 1946. Bộ Quốc phòng cho biết các trường quân sự, trong đó có Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn và Trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi, được tổ chức để đáp ứng nhu cầu cán bộ cho lực lượng vũ trang.
5. KHI NAM BỘ ĐÁNH GIẶC, KHU 4 HỌC CÁCH VỪA XÂY DỰNG VỪA CHI VIỆN
Một trong những bài học lớn của năm 1946 là:
Không thể chờ quân đội hoàn chỉnh rồi mới chiến đấu.
Phải vừa xây dựng, vừa chiến đấu.
Khu 4 chính là một ví dụ.
Từ những tháng đầu sau Cách mạng Tháng Tám, địa bàn này đã phải đóng góp lực lượng cho Nam Bộ.
Đồng thời, chính Khu 4 cũng phải chuẩn bị cho khả năng quân Pháp tiến ra Trung Bộ.
Bởi vậy, việc xây dựng lực lượng không thể chỉ tập trung vào bộ đội chủ lực.
Phải có dân quân và du kích tại chỗ.
Phải có các đơn vị cơ động.
Phải có lực lượng bảo vệ các trung tâm chính trị, kinh tế, giao thông.
Và phải có khả năng rút vào những địa bàn thuận lợi nếu chiến tranh xảy ra.
Đến cuối năm 1946, trên toàn quốc, lực lượng dân quân tự vệ và du kích đã phát triển rất mạnh; song song với đó là quá trình xây dựng các đơn vị chủ lực.
Đối với Chu Văn Tấn, đây là một mô hình ông đã quá quen thuộc.
Nhưng giờ đây quy mô đã khác.
Ngày trước là vài chục người ở Bắc Sơn.
Bây giờ là một chiến khu với hàng vạn con người.
Ngày trước là một khẩu súng được chuyền tay trong rừng.
Bây giờ là bài toán tổ chức cả một lực lượng quân sự.
Chiến tranh du kích đã bước sang một cấp độ mới.
Chú thích: Dân quân, du kích trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nguồn/giải thích: Ảnh minh họa cho quá trình phát triển lực lượng tại chỗ. Theo tư liệu Quân đội nhân dân, đến cuối năm 1946 lực lượng dân quân tự vệ, du kích trên toàn quốc đã phát triển rất lớn, song song với việc xây dựng bộ đội chủ lực.
6. VÀ RỒI CUỘC CHIẾN TRANH KHÔNG CÒN LÀ KHẢ NĂNG
Cuối năm 1946, tình hình chuyển biến nhanh chóng.
Pháp mở rộng các hoạt động quân sự.
Hải Phòng và Lạng Sơn trở thành những điểm nóng.
Ngày 20/11/1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng.
Chiến tranh đang tiến gần.
Ngày 13/12/1946, Trung ương Quân ủy và Bộ Quốc phòng – Tổng chỉ huy triệu tập hội nghị các khu trưởng từ Khu 4 trở ra để giao nhiệm vụ tác chiến.
Đây là một dấu hiệu rất rõ:
Thời gian chuẩn bị gần như đã hết.
Các chiến khu phải chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu.
Đối với Khu 4, nhiệm vụ được giao khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra là đánh địch tại Vinh và Huế, đồng thời góp phần cô lập Huế với Đà Nẵng.
Những thành phố ấy không phải những nơi xa lạ với người dân Khu 4.
Vinh – Bến Thủy là trung tâm công nghiệp, giao thông quan trọng.
Huế là trung tâm chính trị lớn của miền Trung.
Nếu chiến đấu ở đó, lực lượng vũ trang Khu 4 phải có khả năng phối hợp giữa bộ đội, tự vệ và nhân dân.
Những gì đã được chuẩn bị trong năm 1946 giờ đây bước vào cuộc thử lửa thật sự.
Chú thích: Quân dân Khu 4 trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946.
Nguồn/giải thích: Hình ảnh minh họa chiến trường Vinh – Huế trong bối cảnh Toàn quốc kháng chiến. Theo các tư liệu của Quân đội nhân dân và Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Khu 4 được giao nhiệm vụ đánh địch tại Vinh và Huế khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ.
7. TỪ NGƯỜI KIỂM TRA CHIẾN KHU ĐẾN NGƯỜI CHỈ HUY
Điều đáng chú ý trong hành trình của Chu Văn Tấn là ông không dừng lại ở vai trò phái viên Chính phủ.
Sau giai đoạn này, ông trực tiếp đảm nhiệm vai trò Khu trưởng Khu 4, trước khi chuyển sang Chiến khu 1.
Các nguồn tư liệu về tiểu sử Chu Văn Tấn xác nhận ông giữ chức Khu trưởng Khu 4 rồi Chiến khu 1 trong giai đoạn tiếp theo.
Đến ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm Thiếu tướng cho Chu Văn Tấn, khi ông là Khu trưởng Chiến khu 1.
Nhìn lại từ điểm xuất phát, đó là một chặng đường rất dài.
Bắc Sơn.
Võ Nhai.
Cứu quốc quân.
Tân Trào.
Bộ Quốc phòng.
Khu 4.
Chiến khu 1.
Người từng xây dựng một đội du kích trong rừng giờ đã trở thành một cán bộ chỉ huy ở cấp chiến khu.
Quy mô của cuộc chiến đã thay đổi.
Và bản thân Chu Văn Tấn cũng thay đổi cùng với nó.
Chú thích: Chu Văn Tấn trong giai đoạn ông trở thành một trong những cán bộ chỉ huy cấp chiến khu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nguồn/giải thích: Ảnh tư liệu về Chu Văn Tấn trong những năm kháng chiến chống Pháp; không phải ảnh xác định ông tại Khu 4 năm 1946. Năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong tướng đầu tiên.
KẾT – NHỮNG THÁNG NGÀY KHÔNG CÓ TIẾNG SÚNG LỚN NHƯNG QUYẾT ĐỊNH KHẢ NĂNG CHIẾN ĐẤU
Năm 1946, khi Chu Văn Tấn đến Khu 4 với tư cách phái viên của Chính phủ, cuộc kháng chiến chống Pháp chưa bước vào cuộc chiến tranh toàn quốc.
Nhưng những người trong cuộc đã hiểu rằng thời gian hòa hoãn có thể không kéo dài.
Vì thế, những tháng ngày ấy được dùng để chuẩn bị.
Chuẩn bị con người.
Chuẩn bị đơn vị.
Chuẩn bị cán bộ.
Chuẩn bị dân quân, du kích.
Chuẩn bị vũ khí.
Và quan trọng nhất, chuẩn bị một thế trận để nếu chiến tranh xảy ra, đất nước không bị đánh gục ngay từ những ngày đầu.
Chu Văn Tấn từng là người chỉ huy Cứu quốc quân.
Ông hiểu chiến tranh du kích từ trong thực tế.
Nhưng năm 1946, ông đứng trước một nhiệm vụ lớn hơn rất nhiều:
làm thế nào để kinh nghiệm của những đội du kích Bắc Sơn trở thành sức mạnh của một lực lượng vũ trang cấp quốc gia?
Đó là quá trình mà ông và nhiều cán bộ quân sự khác cùng tham gia.
Không phải bằng một trận đánh duy nhất.
Mà bằng hàng nghìn công việc nhỏ: tổ chức đơn vị, đào tạo cán bộ, xây dựng dân quân, chuẩn bị địa bàn, bảo đảm hậu cần, giữ liên lạc và tạo khả năng phối hợp giữa các lực lượng.
Đến đêm 19/12/1946, khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, những công việc tưởng như âm thầm ấy trở thành nền tảng để quân dân cả nước bước vào cuộc chiến.
Riêng Khu 4, lực lượng vũ trang được giao đánh địch ở Vinh và Huế, góp phần giữ chân và phân tán lực lượng Pháp.
Và đó cũng là lúc con đường của Chu Văn Tấn bước sang một chặng mới.
Từ người đi kiểm tra chiến khu…
đến người trực tiếp chỉ huy chiến khu…
và rồi trở thành một trong những vị tướng đầu tiên của quân đội cách mạng.
Có những người được nhớ đến bởi một trận đánh.
Nhưng với Chu Văn Tấn, một phần quan trọng trong câu chuyện của ông lại nằm ở những tháng ngày chuẩn bị cho trận đánh chưa xảy ra.
Bởi đôi khi, sức mạnh của một đội quân được quyết định từ rất lâu trước khi tiếng súng đầu tiên vang lên.
Chú thích: Chu Văn Tấn – từ người chỉ huy Cứu quốc quân trở thành cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cấp cao của lực lượng vũ trang cách mạng.
Nguồn/giải thích: Ảnh tư liệu về Chu Văn Tấn; không phải ảnh chụp trực tiếp tại Khu 4 năm 1946. Các nguồn chính thống xác nhận sau khi rời chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 2/3/1946, ông được cử làm phái viên Chính phủ đi kiểm tra Khu 4; giai đoạn sau ông đảm nhiệm chức Khu trưởng Khu 4.



