Chùa Hoa Yên ghi đậm dấu ấn tu hành của thiền sư Huyền Quang.
Chùa Hoa Yên ghi đậm dấu ấn tu hành của thiền sư Huyền Quang.
Huyền Quang kịp thời hết lời can ngăn. Trong cơn tuyệt vọng, Điểm Bích bộc bạch rõ sự tình, khiến nhà sư không khỏi ái ngại. Để nàng tránh bị liên lụy và mang tội trước nhà vua, Huyền Quang liền trở vào phòng, lấy ba dật vàng trao cho nàng.
Điểm Bích mang số vàng ấy về dâng vua, đồng thời bịa thêm một bài thơ Nôm, nói là do Huyền Quang làm để trêu ghẹo mình trong đêm ở chùa: “Vằng vặc trăng mai ánh nước/Hiu hiu gió trúc ngâm sênh/Người hòa tươi tốt, cành hòa lạ/ Mâu thích ca, nào thú hữu tình!”.
Bài thơ Nôm mang ý tứ tình tứ ấy, lại kèm theo đúng số dật vàng có dấu quốc khố mà nhà vua từng ban, khiến vua Trần Anh Tông nổi giận, cho rằng Huyền Quang là “sư hổ mang”, toan trị tội nặng. Tuy nhiên, nhờ bà lão xin thuốc trong đêm hôm đó đứng ra kể lại đầu đuôi sự việc và đối chất cùng Điểm Bích, nhà vua cuối cùng mới hiểu ra rằng Huyền Quang đã bị nghi oan.
Sau biến cố ấy, thanh danh và giới hạnh của Huyền Quang càng được khẳng định. Năm 1317, ông chăm sóc thiền sư Pháp Loa tại viện An Lạc, và cũng trong năm này, Huyền Quang được trao truyền y bát của Trần Nhân Tông từ tay Đệ nhị Tổ Pháp Loa, chính thức trở thành Đệ tam Tổ, tiếp nối và phát huy thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Huyền Quang không chỉ là một thiền sư, một vị lãnh tụ của Giáo hội Trúc Lâm, mà còn là một thi sĩ lớn của thời Trần, có vị trí quan trọng trong lịch sử thơ ca Việt Nam. Thơ ông được các học giả đời sau như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đánh giá cao, cho rằng giàu chất trữ tình, “ý thơ tinh tế”, “lời thơ phóng khoáng”, thể hiện chiều sâu tư tưởng và phong thái ung dung của người tu hành am hiểu thế sự.
Những tác phẩm còn lưu truyền đến nay gồm bài phú Nôm vịnh chùa Vân Yên và tập thơ chữ Hán “Ngọc Tiên tập”. Bên cạnh đó, ông còn để lại nhiều trước tác có giá trị về Phật học và nghi lễ như: Chư phẩm kinh (tuyển chọn các kinh thiết yếu dùng hằng ngày), Công văn tập (gồm các bài sớ, văn điệp sử dụng trong nghi lễ và tán tụng), Thích khoa giáo (sách giáo khoa Phật học), cùng thư từ, văn bản dùng trong việc tiếp sứ thần. Tuy nhiên, do biến thiên lịch sử, một phần không nhỏ các tác phẩm của ông đã bị thất lạc.
Theo các nguồn sử liệu, ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334), thiền sư Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn. Đến ngày hôm sau, người dân quê hương Vạn Tải mới hay tin, vì vậy dân làng lấy ngày 24 tháng Giêng làm ngày kỵ giỗ để tưởng niệm. Trước công lao, tài năng và đức độ của Huyền Quang đối với Phật giáo Trúc Lâm, vua Trần Minh Tông đã ban lệnh dựng tháp, cấp tịnh tài lo việc tang lễ, đồng thời truy phong thụy hiệu “Trúc Lâm thiền sư Đệ tam đại”, đặc phong tự pháp “Huyền Quang tôn giả”.



